Tầm mấy chục năm trước Việt Nam có xuất bản một cuốn tiểu thuyết mỏng mà đẹp, tên là Biên thành. Tác giả là Thẩm Tùng Văn, giáo sư Đại học Bắc Kinh. Khi chính quyền Tưởng Giới Thạch rút khỏi đại lục có sai người mang vé máy bay tới nhà ông (để ông đi cùng ra đảo), nhưng Thẩm Tùng Văn cương quyết từ chối, một lòng tin tưởng ngồi chờ quân giải phóng Trung Quốc vào thành.
Để đáp lại, chỉ vài năm sau nước Cộng hòa Nhân dân ra lệnh tịch thu và đốt sạch tác phẩm của ông. Thẩm Tùng Văn bị đấu tố mạnh mẽ tới mức chính vợ ông còn nghi ông là phản cách mạng. Một ngày năm 1953, trong cơn tuyệt vọng, Thẩm Tùng Văn cắt cổ cắt tay tự sát. Nhưng không chết. Ông nghỉ việc ở Đại học Bắc Kinh, cũng dứt khoát rời bỏ đô thành thị phi này. Tác phẩm của ông bị cấm ở Đài Loan vì ông ở lại “vùng địch”. Sách ông bị xóa sổ khỏi mọi thư viện đại lục vì ông “phản động”. Tên ông biến mất hoàn toàn, triệt để đến mức sinh viên văn chương các trường đại học không còn biết Trung Quốc từng có nhà văn Thẩm Tùng Văn, từng tồn tại cuốn tiểu thuyết tên Biên thành.
Thảm kịch của Thẩm Tùng Văn chỉ là một bức tranh nhỏ về số phận bi đát của trí thức Trung Quốc sau giải phóng, dù là có công hay không tội.
Đặng Bảo Quang là điệp viên cộng sản, thời Quốc dân đảng làm ở Cục Xử lý tài sản công, bảo quản hàng trăm nghìn cuốn sách và tư liệu quý. Khi Quốc dân đảng rút sang Đài Loan, đáng lẽ phải chở sách đi theo, thì ông lại chọn ra 70.000 cuốn giá trị nhất, đưa đến Hồng Kông giấu đi. Quốc dân đảng tới Đài Loan, không thấy sách đâu, liền sai người sang Hồng Kông, giữa ban ngày ban mặt trên phố chém vào đầu ông chín nhát dao. Nhờ bà vợ người Mỹ chăm sóc tận tình, Đặng may mắn thoát chết, chuyển sách về Thượng Hải giao cho người của Đảng, khi bình phục cũng về đại lục theo. Nhưng không bao lâu bị bắt với tội phản cách mạng, vợ ông bị giam hơn một năm, ra tù thành người nước ngoài không hộ khẩu, đành một mình về Mỹ. Con trai ông bị đưa đi cải tạo lao động suốt 23 năm.
Cố Cao Địa, một người trẻ tuổi xếp bút nghiên theo quân Bắc phạt, sau đó làm công tác tình báo chống Nhật trong chế độ cũ, luôn giữ liên lạc với tổ chức cách mạng ngầm, phục vụ cho Đảng Cộng sản Trung Quốc. Mấy năm sau giải phóng, ông bị kết án phản cách mạng và lưu đày đến Thanh Hải. Tiếng là chịu án 14 năm, nhưng hơn 20 năm sau mới được tha. Khi trở về mới biết cvợ, con trai, con gái mình đã cùng nhau tự sát được chín năm. Con gái ông là Cố Thánh Anh, người Trung Quốc đầu tiên đoạt huy chương vàng ở một cuộc thi piano thế giới. Trước khi mở van gas tự sát, vợ, con gái, con trai chỉ để lại cho ông một mảnh giấy ngắn: Mọi người không chờ được cha nữa, đi trước đây. Sau khi cha mãn hạn tù, hy vọng cha cũng tự sát luôn, chúng ta sẽ gặp nhau ở thiên đường. Cố Cao Địa nhọc nhằn chịu đựng hai mươi mấy năm tai ương trở về Thượng Hải, đã không còn nhà, không bao giờ còn nghe được tiếng đàn tuyệt mỹ của con gái nữa.
Nhà mỹ học Lữ Huỳnh vốn là học giả, chưa từng làm quan chức, nên đúng ra chẳng có việc gì, nhưng ông lên tiếng bênh vực một người bị kết án chính trị oan, nên bị chụp mũ cốt cán phản cách mạng, ở nông trường cải tạo lao động ông bị chửi là điên, từ đội trưởng đến giám thị đều hành hạ, sỉ nhục, chửi mắng thậm chí đánh đập ông hằng ngày. Lữ Huỳnh từng khích lệ bạn tù phải kiên trì niềm tin, nhân dân nhất định thắng lợi, nhưng chính ông không kiên trì nổi, vì bệnh tật và đói khát, ông lặng lẽ chết đi trước mùa xuân năm 1969. Bên đống đất chôn ông dựng một viên gạch đỏ nhỏ với hai chữ Lữ Huỳnh viết bằng phấn. Cả một đời mỹ học chỉ còn lại dấu vết duy nhất này. Nhà văn A Lung từng đúc kết: Chúng tôi vô tội, chúng tôi thanh minh, rồi chúng tôi tàn úa.
Trong Thế chiến II, trước khi Mỹ ném bom Nhật Bản, một kiến trúc sư ở Mỹ về là Lương Tư Thành đã vẽ vòng bảo vệ lên hai cổ đô Nara và Kyoto rồi chuyển bản đồ cho bộ chỉ huy Mỹ ở Trùng Khánh. Nara và Kyoto không bị không kích, rất nhiều công lao là của Lương Tư Thành. Sau giải phóng ông làm Chủ nhiệm Khoa Kiến trúc Đại học Thanh Hoa, theo chỉ thị đã phải lên báo tự vả mình: truyền bá các trường phái kiến trúc phương Tây tức là mang về thứ cặn bã của kẻ thù, giống như thuốc phiện gây mê mụ, đầu độc thế hệ kiến trúc sư mới của chúng ta. Ngoài ra, vì Lương Tư Thành là con trai Lương Khải Siêu (nhân vật Duy tân cuối triều Thanh), nên trong kiểm điểm, ông còn phải dành hẳn một phần để chửi rủa cha mình.
Tự vả không có nghĩa là thoát cải tạo. Cuối năm 1941, khi chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, quân Nhật đưa xe tăng vào khuôn viên Yên Kinh. Hiệu trưởng Lục Chí Vĩ dẫn giáo sư sinh viên cải trang trốn sang Tây An, trải qua muôn vàn gian khổ để tái lập trường ở Thành Đô, mãi đến khi kháng chiến thắng lợi mới dời về Bắc Kinh. Khi Đảng Cộng sản Trung Quốc nắm quyền, ông chấp hành cải tạo tư tưởng, tự kiểm điểm mình thân Mỹ, phản cộng, phản nhân dân mấy lần liền, nhưng vẫn không thoát được đại hội đấu tố. Khi con gái ông bị bắt lên bục tố cáo, chỉ thẳng vào đầu ông quát tháo, ông chỉ có thể im lặng nghe, không được lên tiếng.
Khi quân giải phóng vào thành, không khí mới mẻ khiến dân chúng tin rằng trời đã sáng, thời kì đen tối đã qua đi mãi mãi. Hàng ngàn trí thức như én theo xuân, tới tấp từ hải ngoại trở về.
Nhưng các học giả hồi hương chẳng được nhà cầm quyền chào đón. Trước khi bị cải tạo triệt để, họ đều không phải đối tượng được nhà nước đáng tin cậy. Vậy nên nhiệm vụ hàng đầu của họ không phải dâng hiến kiến thức khoa học tiên tiến mang từ nước ngoài về để cống hiến cho đất nước, mà là rửa sạch não bộ mình. Các giáo sư lên bục kiểm điểm tư tưởng, chỉ cần hơi biện minh là cử tọa đập bàn chửi rủa ầm ĩ. Nhiều người không chịu nổi.
Không chịu nổi thì chỉ còn cách chọn cái chết. Nhà hóa học vô cơ nổi tiếng Cao Sùng Hy không chịu nổi tra tấn nên uống thuốc độc tự sát. Ông dần bị lãng quên, mãi đến năm 1956, khi Chu Ân Lai lập kế hoạch phát triển khoa học quốc gia, phát hiện giới hóa vô cơ thiếu anh tài, lúc ấy mới nhớ đến ông.
Những trí thức đầy tâm huyết muốn phục vụ nước Cộng hòa Nhân dân phát hiện ra rằng, trong mắt nhà cầm quyền, họ chỉ là đám đầy độc tố, những kẻ dị loại. Vì vậy, không khí hân hoan mừng giải phóng ban đầu dần im bặt, giới trí thức dần rơi vào im lặng. Cảnh tượng tươi sáng mà hai chữ giải phóng mang lại bị phủ một lớp bóng tối. Nhưng Mao Trạch Đông chỉ quan tâm đến việc đập tan uy phong của trí thức, đảm bảo họ không hai lòng. Khi họ lần lượt tuyên bố cắt đứt với chính quyền cũ, thời đại cũ: quyết tâm dựa vào Đảng, thì cũng được tha.
Nhưng những ai không chịu chạy theo, không chịu tự chửi mình để thoát nạn, thì kết cục thảm hại.
Giáo sư Đại học Vân Nam Lưu Văn Điển là một trường hợp hiếm hoi cương quyết từ chối kiểm điểm. Khi kháng chiến thắng lợi, các giáo sư lần lượt ra Bắc, Lưu Văn Điển vì mê khí hậu Côn Minh nên ở lại Vân Nam. Ông là một học giả phóng khoáng, không chịu ràng buộc. Cuối thập niên 20, khi làm Hiệu trưởng Đại học An Huy, ông từng nói thẳng vào mặt Tưởng Giới Thạch: Khi tôi theo Tôn Trung Sơn làm cách mạng, căn bản chưa từng nghe ba chữ Tưởng Giới Thạch.
Vì câu này mà ông bị Tưởng giam lỏng rất lâu. Ông ngạo đời, luôn tự nhận mình là người duy nhất trong ba nghìn năm nay thực sự hiểu Trang Tử, cho nên đời nào chịu chấp hành khi chính quyền nhân dân bắt cải tạo tư tưởng. Trong đại hội phê bình đấu tố, ông công khai tuyên bố: Tôi là hội viên Đồng Minh Hội Quốc dân đảng, là tín đồ trung thành của Tôn Trung Sơn. Nếu nói tư tưởng chính trị tôi sai lầm, thì đó là tại Tôn Trung Sơn. Còn tư tưởng học thuật của tôi, hoàn toàn xuất phát từ Trang Tử. Các ông muốn thanh toán tư tưởng tôi, chi bằng thanh toán Tôn Trung Sơn và Trang Tử trước. Đó mới là trị tận gốc rễ. Nếu Tôn Trung Sơn và Trang Tử đều phản động, đều đáng bị đánh đổ, thì tôi còn đáng tồn tại hay không, tôi không có í kiến nữa.
Học giả đã ngoài sáu mươi này, mềm cứng không ăn, kiên quyết từ chối cải tạo, cuối cùng rơi vào cảnh không có lớp để dạy.
Trí thức đã vậy, các nhà tư sản cũng không có kết thúc có hậu, trong phong trào thanh trừng phản cách mạng, ở Thượng Hải có hơn một nghìn nhà tư bản nhảy lầu. Người nổi tiếng nhất có lẽ là Lư Tác Phù, Midas giới tư sản, khởi nghiệp trong một cái đền thờ, về sau khuếch trương kinh doanh ra toàn cõi Đông Á, Đông Nam Á, công ty vô cùng nổi tiếng, lúc giải phóng đã đem hết các đội tàu buôn đầu nhập chính quyền mới, bản thân không có một cái nhà, tài khoản không có một đồng tiền. Nhưng sau bị quy kết lậu thuế, phản cách mạng, ông không đợi Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai tìm cách xử mềm trường hợp của mình, đã khí khái tự sát. Trường hợp của ông rất giống nhà văn Lão Xá, không van xin, không biện minh, cũng không níu giữ hi vọng mong manh có người tới cứu.
Mấy cái này đọc trong chuyên khảo Âm mưu công khai về phong trào chống cánh hữu (thật ra là chống trí thức) do ĐCSTQ phát động cuối những năm 1950.
Tác giả là một nhà nghiên cứu người Mỹ gốc Hoa, sách xuất bản ở Hồng Kông một lần năm 1993, một lần nữa năm 2003 dù lúc đó Hồng Kông đã về với Trung Quốc. Cơ bản đúng là chuyên khảo, viết như một danh sách liệt kê, phân tích nhớ đâu viết đó, không có tính văn chương bố cục gì, nhưng tự tính chất khốc liệt của các trường hợp được nêu đã hỗ trợ hành văn, đọc khá thổn thức.
Chuyên khảo còn lướt qua một hai thảm cảnh tra tấn đấu tố lúc cải cách ruộng đất nữa, tàn bạo như thời phong kiến.
Những thiên đường mù của Dương Thu Hương có kể về phong trào tương tự ở nước ta. Lúc sách này bị tịch thu, ông thân sinh tôi đã giấu không nộp, nên tôi có được đọc. Cuốn này cùng vài cuốn đóng dấu Lưu hành nội bộ khác thường được để riêng trong tủ sách cá nhân có khóa của cụ. Sau khi cụ qua đời thì vài chục năm nay tôi cũng chưa bao giờ từng nhìn thấy lại những cuốn ấy nữa.