Tầm mươi mười lăm năm trước tôi có dịch đăng ở đây một đoản thiên của Nghê Khuông kể về bảo tàng cực hình. Đại khái là nam chính tham quan bảo tàng này, tận mắt thấy cảnh Viên Sùng Hoán đang bị tùng xẻo, Tư Mã Thiên đang bị thiến, một nhà nho vừa bị chém đứt đôi người đang bò lết cùng bộ ruột sổ ra. Đáng nói là, ban đầu nam chính tưởng tượng sáp, nhưng sau ngờ ngợ sờ vào mới biết đều là người thật…
Đại khái thì đoản thiên đó cám cảnh cho sự tàn bạo cũng như tinh vi trong môn khoa học hành hạ con người.
Hẳn có liên quan rất lớn đến tâm lý ăn thịt người, Trung Quốc xa xưa phát minh cực hình phần lớn đều lấy cảm hứng từ ăn uống. Dẫn tên là thấy: băm người thành tương thịt, trói người vào vỏ lò kim loại làm áp chảo, ném người vào nồi ninh làm món hầm.
Những cực hình này phổ biến rộng rãi thời Ân Thương, mãi đến nhà Chu, con người thoát khỏi hình thức tổ chức bộ lạc, khái niệm “ăn uống” trong cực hình dần dà được thay thế bằng “chặt chém”. Chặt chém nhà Chu đại khái chia thành ba loại: ngũ mã phanh thây, chém, và giết. “Chém” ở đây là chém ngang lưng, sao cho đứt đôi người ra, từng được đánh giá là bậc thang tiến hóa trong lịch sử cực hình Trung Quốc.
Thoạt tiên, công cụ dùng cho chém ngang lưng là rìu, đến khi đồ sắt phổ biến, rìu chuyển thành dao cán dài với phần lưỡi rất sắc. Nhưng dao có sắc đến đâu cũng cần kĩ thuật vận dụng, một là không làm quằn lưỡi dao, hai là tránh trường hợp một nhát vẫn chưa đứt thân, sẽ bị đám đông đứng xem cười nhạo.
Về sau, dao cán dài được thay thế bằng trảm đao, một loại dao chém cỡ lớn, sự tiến bộ về thiết kế và rèn đúc này đã cứu lấy mặt mũi đao phủ. Trảm đao dùng rất thuận tay, lưỡi sắc mà lưng dày, khó mòn, lại không đòi hỏi trình độ vận dụng cao, chỉ cần đặt người nằm ngang dưới trảm đao, vung lên bổ xuống là đủ làm tội nhân tay chân xa nhau mãi mãi.
Khi thi hành án, tội nhân phải cởi trần, nằm sấp lên thớt. Điều này với bất cứ ai cũng là sự tra tấn tàn khốc cả về tinh thần lẫn thể xác. Nhiều người còn chưa kịp hành hình đã chết ngất rồi.
Lỗ Tấn từng viết.
Trung Quốc là dân tộc rất giỏi nghiên cứu cơ thể người, sử dụng luôn thuận theo tự nhiên. Cổ họng mỏng nhất nên phát minh ra chặt đầu. Đầu gối gập được nên phát minh ra quỳ lạy. Mông nhiều thịt lại không làm chết ngay nên phát minh ra quất mông…
Chém ngang lưng tiến hóa ở chỗ chế ngự tội nhân ngay từ mặt tâm lý. Nghĩa đen là chặt đứt cốt sống của kẻ phản nghịch, nghĩa bóng là giáo hóa thần dân biết ngoan ngoãn, phục tùng.
Các cơ quan chính của con người đều nằm ở thân trên, nên sau khi bị chém, tội nhân phải mất một lúc mới tắt thở, đau đớn tột cùng. Vì vậy, để giúp người thân bớt phần chịu đựng, gia quyến tội nhân thường đút lót đao phủ, nhờ hắn chém vào vị trí cao hơn thắt lưng một chút để chết nhanh. Ngược lại, kẻ thù của tội nhân muốn thừa cơ hành hạ, sẽ dúi tiền cho đao phủ chém vào vị trí thấp hơn, thậm chí chặt người xong còn đặt thân trên lên tấm ván ngâm dầu để cầm máu, khiến người ta đau đớn hàng mấy canh giờ vẫn không chết cho.
Giữa bao nhiêu người không chịu nổi cuộc tâm lý chiến này, thì Hàn Tín là một ngoại lệ. Thời Hán Sở tranh hùng, Hàn Tín vì phạm quân pháp nên bị xử chém ngang lưng. Nhìn đồng đội chịu cực hình, Hàn Tín không mảy may run rẩy, tới lượt mình còn nằm ngửa ra, nhìn thẳng lên trảm đao mà quát, “Lưu Bang không muốn đoạt thiên hạ nữa ư? Sao lại giết người sẽ giúp hắn thành đại nghiệp?”
Giám trảm lúc ấy là Hạ Hầu Anh, nghe thấy mến mộ khí phách quá chừng, vội vàng quát dừng, quay về tiến cử với Lưu Bang.
Chém ngang lưng tồn tại xuyên suốt chiều dài phong kiến, mãi đến thời Ung Chính mới được bãi bỏ. Lần chém ngang lưng cuối cùng trong lịch sử Trung Quốc là dành cho Dụ Hồng Đồ, học chính Hà Nam. Năm Dụ Hồng Đồ giám sát khoa cử Phúc Kiến, tiểu thiếp của y thông đồng với gia nhân, nhận hối lộ để tuồn đề thi ra ngoài. Cách làm của ả là, dán đề thi vào mặt trong áo choàng ngoài của Dụ Hồng Đồ. Đợi y mặc vào trường thi, gia nhân lúc hầu y thay áo lén lấy tài liệu tuồn cho kẻ hối lộ. Sau Dụ bị tố cáo, Ung Chính ra lệnh xử chém ngang lưng. Dụ không biết trước hình phạt, nên không kịp lo lót để được chết nhanh, đành chịu đựng nỗi đau khi đao phủ không hiểu mắc chứng gì cố í chém chậm rãi.
Quần chúng chứng kiến cho biết buổi thi hành án khá tàn khốc, ngay Ung Chính nghe kể cũng động lòng xót thương, hạ lệnh bãi bỏ hình thức xử tử này. Từ đó, chém ngang lưng với tuổi đời hai nghìn năm chính thức chấm dứt vai trò lịch sử.
Tùng xẻo thì khá nổi tiếng rồi, đại khái đỉnh cao là không làm tội nhân chết trước khi bị xẻo đủ 2000 miếng thịt trên người.
Một cực hình tàn bạo không kém tùng xẻo là lột da. Nguồn gốc của lột da thì khó mà tra cứu rõ ràng. Có thuyết nói bắt đầu từ Trụ Vương thời Ân Thương, cũng có thuyết cho là từ Tôn Hạo (cháu Tôn Quyền) cuối thời Tam Quốc. Tôn Hạo rất thích lột da mặt người ta.
Khi Ngô bị diệt, quân Tấn xông vào hoàng cung còn tìm thấy hàng chục lớp da mặt được bảo quản nguyên vẹn. Thái úy nhà Tấn là Giả Sung hỏi Tôn Hạo, tại sao lại lột da mặt người ta, Hạo đáp, “Toàn những quân nịnh hót mặt dày, ta bóc ra để răn đe.”
Nghe như bị điên, nhưng so với Tôn Hạo, Chu Nguyên Chương nhà Minh còn điên hơn.
Đào Tông Nghi thời Nguyên có chép.
Thiên hạ đương cơn nước lửa, binh lính vùng Hoài Hữu thích ăn thịt người… Cách chế biến thường là luộc chín rồi lấy chổi tre chà sạch da, hoặc nhét vào túi lớn hầm nhừ trong nồi to. Với đàn ông thì chặt đứt ba chân, với phụ nữ thì xẻo hai bầu vú. Tàn độc muôn phần, không thể kể xiết.
Binh lính Hoài Hữu ở đây chính là quân đội của Chu Nguyên Chương. Họ nấu nướng con người ta như nguyên liệu ẩm thực thông thường. Tướng phải thế nào mới dẫn dắt ra một đội quân như vậy?
Sau khi tiêu diệt các thế lực đối địch, định đô Kim Lăng, để lập uy và thanh lọc pháp kỉ, Chu Nguyên Chương chuyên dùng cực hình để chỉnh đốn quan lại. Quan chức bất kể lớn nhỏ, hễ nhận hối lộ từ 60 lạng bạc trở lên, không chỉ chặt đầu treo cổ thị chúng mà còn bị lột da toàn thân, nhồi rơm, treo hai bên công đường để làm gương.
Cùng việc áp dụng lột da, nhà Minh đã tạo nên kỉ lục về sự đa dạng và tàn bạo trong lịch sử thi hành hình luật. Lột da được Chu Nguyên Chương quy chuẩn, sau này được hoạn quan Ngụy Trung Hiền đẩy lên tầm cao.
Một thầy tướng số thời Minh ghi lại như sau
Thời gian du hành kinh kì, tôi trú tại miếu Công Công Tào. Nơi đây người qua kẻ lại tạp nham, đủ hạng ba giáo cửu lưu. Một lần ngồi nhậu, có người liệt kê vài tội lớn của Ngụy Trung Hiền, xung quanh người ta sợ hãi khuyên răn im đi, nhưng hắn chẳng thèm để ý, “Ta nói trong này, thằng mất giống đó làm sao nghe được? Mà nghe thì sao, chẳng lẽ lột da ta chắc?”
Không ngờ thằng mất giống thật sự nghe thấy, đêm hôm ấy, cẩm y vệ bốc kẻ kia đến Đông Xưởng, lột quần áo, trét nhựa đường lên người hắn, vừa trét vừa gõ bằng búa gỗ, chỉ một lát tróc nguyên bộ da.
Đến cuối thời Minh, lột da trở nên tinh xảo và mang tính nghệ thuật toàn diện.
Ngoài Ngụy Trung Hiền còn có thủ lĩnh khởi nghĩa Trương Hiến Trung, phát minh được cách lột da rất tinh vi, rạch thật ngọt từ gáy xuống xương cụt rồi bóc toạc ra hai bên, cả lớp da người liền lột được nguyên vẹn. Ngoài thực hành, Trương Hiến Trung cũng có một học thuyết phong phú về lột da, theo đó người gầy chỉ xương không thịt, gân mỏng mỡ khô, dễ lột da nhất. Còn người béo thì mỡ dày, dính nhằng vào da như rễ chùm, ai lột được bộ da nguyên vẹn của kẻ béo mới xứng là cao thủ lột da.
Thời nhà Minh có thể phát triển nghệ thuật cực hình đối với con người đến mức ấy, ngoài việc có một quân chủ khai quốc tàn bạo, còn có các bề tôi và hậu duệ rất chịu khó học hỏi tiền nhân.
Thủy Hử có nhắc đến nơi tù đày của Lư Tuấn Nghĩa, hình như cả Võ Tòng hoặc Lâm Xung, là Sa Môn Đảo. Truyện thì hư cấu nhưng Sa Môn Đảo là thật, nay là thành phố Bồng Lai tỉnh Sơn Đông. Ở Sa Môn Đảo, cai ngục ngoài việc trông nom tù nhân, còn có nhiệm vụ vắt óc nghĩ ra cách mới để tra tấn họ. Tống sử có chép một số thành quả như sau.
1. Giam cầm lâu dài bằng cùm xích
Theo quy định, thời gian đeo cùm có giới hạn, nhưng ở Sa Môn Đảo, cai ngục thường bắt tù nhân đeo cùm xích quanh năm suốt tháng. Không chỉ phải làm việc nặng, mà ngay cả lúc ăn uống ngủ nghỉ cũng không được tháo ra. Lâu ngày, xương cổ biến dạng, cổ tay gãy nát, có khi xích sắt ăn vào trong thịt, đau đớn khôn cùng.
2. Ép ăn mùn cưa
Trộn mùn cưa với nước, ép tù nhân nuốt vào bụng. Mùn cưa không tiêu hóa được, khiến bụng trướng phồng, đau đớn tột cùng, cuối cùng chết trong thống khổ.
3. Bao tải đá
Nhồi đầy đá vào bao tải, rồi dùng bao tải nện tù nhân, sẽ chỉ gây ra nội thương, với tình hình pháp i chỉ xem xét bên ngoài thời đó (vì không được phẫu thuật) thì không thể phát hiện nguyên nhân tử vong.
4. Ép nuốt cá chạch
Nhét móc câu sắt nhỏ vào trong con cá chạch, bắt tù nhân nuốt sống. Cá bị tiêu hóa nhưng móc câu bằng sắt không tan chảy được, sẽ móc thủng ruột gan, gây xuất huyết nội tạng mà chết.
5. Đâm kim thép
Trước tiên xoa bóp vai tù nhân để cơ bắp giãn mềm, rồi đâm lút kim thép vào huyệt kiên tỉnh ở vai, sao cho chìm hẳn vào thịt, không nhìn thấy nữa. Như thế tù nhân sẽ không nhấc tay lên được nữa, nhưng vẫn bắt họ đi lao động nặng. Đợi họ không làm được, sẽ trừng phạt và đánh đập hợp pháp.
Sa Môn Đảo đất hẹp người đông, tù nhân trong trại luôn quá tải. Để giảm gánh nặng, triều đình cũng nhắm mắt làm ngơ với việc hành hạ tù nhân ở đây. Các hình phạt trên còn thấy xuất hiện trong ghi chép hoạt động của Đông Xưởng, đặc vụ thời Minh sau này.
Cuối cùng là một vài cực hình không phổ biến lắm, cũng khá cổ xưa, liên quan tới Trụ Vương nhà Thương. Người này nổi tiếng kiểu tiêu cực, không hiểu về sau đầu thai vào đâu.
Trụ Vương tên Tử Tân, con út của Đế Ất, nên còn gọi là Đế Trụ. Từ nhỏ đã thông minh xuất chúng, võ lực hơn người, rất được Đế Ất yêu thương. Nhưng sau khi lên ngôi, Trụ Vương thành ra xa hoa dâm dật, đặc biệt sủng ái nghe lời Đát Kỷ, trọng dụng gian thần, khiến lòng dân ly tán. Cuối cùn bại trận Mục Dã trước Chu Vũ Vương, rồi tự thiêu trong cung mà chết.
Một ngày mùa đông giá lạnh, có vài người qua sông. Trụ Vương đi xe ngang qua, thấy người thì xắn quần lội thẳng xuống dòng nước lạnh, người thì tần ngần không dám xuống.
Trụ Vương lấy làm lạ, hỏi Đát Kỷ, “Sao có người sợ lạnh, người lại không?”
Đát Kỷ đáp, “Con người sinh ra và phát triển thế nào là nhờ tinh huyết cha mẹ. Cha mẹ sinh con lúc còn cường tráng thì đứa trẻ khí huyết dồi dào, tủy đầy xương ống chân, đến già vẫn khỏe mạnh. Còn cha mẹ sinh con lúc đã già yếu thì đứa trẻ khí huyết suy vi, tủy không đầy ống chân, chịu lạnh kém.”
Trụ Vương không tin. Đát Kỷ bèn hiến kế: bắt mấy người qua sông kia lại, chặt chân họ xem xương ống chân là biết ngay.
Trụ Vương liền làm theo. Quả nhiên chặt ra thì thấy chân người lội nước trước tủy đầy, chân người ngại ngần thì xương ống rỗng không. Trụ Vương càng hâm mộ Đát Kỷ, cho rằng nàng tiên tri như thần.
Đát Kỷ đắc chí, tiếp tục khoe rằng mình không chỉ phân biệt được già trẻ khỏe yếu, mà còn biết được thai nhi là gái hay trai. Trụ Vương lập tức hứng thú, triệu mấy phụ nữ bụng chửa vượt mặt đến để Đát Kỷ đoán.
Đợi nàng chỉ ra ai đẻ con nào xong, Trụ Vương liền sai người rạch bụng các sản phụ để kiểm chứng, kết quả hoàn toàn đúng.
Trụ Vương vội hỏi bí quyết, Đát Kỷ bảo: thật ra cũng liên quan đến tinh huyết cha mẹ. Khi giao hoan, nếu tinh nam đến trước, huyết nữ đến sau thì âm bao dương, sinh con trai; nếu huyết nữ đến trước, tinh nam đến sau thì dương bao âm, sinh con gái.
Chắc là cách diễn đạt khác của XX XY gì đây?!
Liên quan đến rạch bụng sản phụ, đời sau còn có một ca lừng lẫy, là Lưu Tống Hậu Phế Đế Lưu Dục. Tàn ác từ nhỏ, giết người như ngóe, có thú vui nghiên cứu cực hình và thực hành giết người. Ngày nào không thấy máu chảy đầu rơi, quân vương khó ngủ. Tương truyền mỗi lần ra ngoài, tùy tùng phải mang theo đủ loại hung khí như dao, thương, kìm, đục, cưa, sẵn sàng chờ lệnh hắn.
Một hôm Lưu Dục đi chơi, kiệu xe rầm rộ, dân tình dạt xa. Một sản phụ mình mẩy nặng nề tránh bước hơi chậm, lọt vào mắt Lưu Dục. Hắn liền sai bắt sản phụ lại.
“Gặp hoàng đế mà không tránh, ta muốn xem trong bụng ngươi chứa thứ yêu nghiệt gì.”
Sản phụ còn đang sợ ngây người đã bị mổ sống. Lưu Dục túm lấy thai nhi đẫm máu giơ lên, nhìn một lúc rồi nói, “Quả nhiên là yêu nghiệt.” Đoạn ném xuống, hài lòng tiếp tục du ngoạn.