Mạng người đáng giá bao nhiêu và một số ghi chép về nạn ăn thịt người ở Trung Quốc thời trước

Một đất nước, thịnh trị hay suy vong, người chịu khổ nhất vẫn luôn là dân chúng. Trong lịch sử Trung Quốc, dù là thái bình thịnh thế, chỉ cần xảy ra hạn hán, lũ lụt hay tai ương nào đó, nạn ăn thịt người lập tức xuất hiện.

Minh chứng chân thực không đâu xa, ngay trong thi ca, ví dụ thơ Bạch Cư Dị mà Tản Đà từng dịch, “Năm nay hạn hán Giang Nam, Cù Châu người mổ người làm thức ăn.” (Câu này dịch lục bát mà đọc cứ ngang ngang thế nào ấy nhỉ)

Thái bình thịnh thế đã vậy, một khi gặp cơn chiến loạn, mạng người còn rẻ rúng hơn, bị chà đạp, hành hạ tùy tiện hơn nữa.

Ghi chép chính thức về khởi nghĩa Hoàng Sào có đoạn khá lạnh gáy:

Giặc vây Trần quận suốt ba trăm ngày, vùng Quan Đông liên tục mất mùa, dân chúng đói lả dựa tường mà chết. Giặc bắt người ăn thịt, mỗi ngày tàn sát hàng ngàn sinh mạng. Chúng có trại giã với hàng trăm cối đá khổng lồ, tống thẳng người sống vào cối rồi giã nát, xương thịt lẫn lộn, cứ thế mà ăn.

Ghi chép bên lề bổ sung:

Dân chúng thời đó rất cực. Quân khởi nghĩa vây thành, lương thực nhanh chóng cạn kiệt. Khi cỏ rễ, vỏ cây, mọi thứ có thể ăn được đều đã hết, người ta lấy đất sét nặn thành bánh để cầm hơi. Dân chúng chết đói, chết rét không đếm xuể; Ai sống sót thì đều không còn nguyên dạng, thịt trên người bị xẻo mất từng tảng. Lúc ấy ngoài chợ, thịt chó một cân 500 đồng, nhưng thịt người một cân chỉ đáng 100 đồng.

Trang Xước thời Tống kể:

Suốt sáu bảy năm từ khi quân Kim quấy phá Trung Nguyên, đất Sơn Đông, Kinh Tây, Hoài Nam không mọc gì ngoài cỏ dại, hàng vạn đồng không mua nổi một đấu gạo… Thịt người rẻ hơn cả chó heo, bán mãi không đắt phải phơi khô ướp muối. Năm Quý Sửu thời Thiệu Hưng, đến Tiền Đường vẫn thấy đồ tể rao bán thịt người. Thịt già dai ngoách gọi là que cời lửa, thịt gái non mềm gọi là mỡ nấu canh, thịt trẻ con tanh tanh gọi "xương hầm nhừ", nhưng tên chung của tất cả là "thịt dê hai chân”.

Phân loại xếp hạng đúng là đặc tính cuủ người Tàu. Chi tiết đến mức này, rõ ràng nạn ăn thịt người không phải chuyện hiếm hoi trong lịch sử của họ.

Các trường hợp trên ăn thịt đồng loại chỉ vì quá đói, nhưng cũng có khi người ta ăn thịt đồng loại để thêm man rợ, thêm hiếu chiến, như Phù Đăng nhà Tiền Tần dẫn quân đánh trận, đều bắt lính ăn thịt kẻ địch, hay như Chu Xán cuối Tùy đầu Đường chiêu quân cướp bóc, thường sai lâu la bắt phụ nữ trẻ em nấu ăn, còn gật gù bình luận,  “Thức ngon trên đời, gì bằng thịt người! Chỉ cần còn người, sao phải lo đói!”

Cuối thời nhà Minh, Hà Nam Sơn Đông gặp hạn hán và châu chấu. Cỏ rễ, vỏ cây ăn hết sạch, người ta quay ra ăn thịt nhau. Dân gian có kể thanh niên họ Chu đang đăng trình, buổi trưa ghé quán bên đường dùng bữa. Chủ quán bảo đợi nhé, tôi làm cho món giò hầm. Họ Chu đương rung đùi chờ thì bỗng nghe sau bếp ré lên thảm thiết, chạy vào xem, thấy mấy phụ nữ bị xích ở đấy, một người vừa bị kê tay lên thớt chặt đứt. Cực kì bất nhẫn, anh ta móc túi mua hết mấy cô chưa bị đứt gì đem về làm vợ.

Dĩ nhiên đây chỉ là chuyện vỉa hè, thật giả khó xác định, nhưng cũng phần nào phản ánh được thời sự bấy giờ. Kỷ Hiểu Lam nhà Thanh cảm khái, “Làm chó thời bình còn hơn làm người thời loạn”.

Sống trong thời loạn, dân đen hay tinh hoa đều bất hạnh cả. Ai cũng có thể biến thành miếng ăn của kẻ khác. Một khi đói kém, nhân phẩm, đạo đức, bác ái của con người đều xếp dưới giá trị một bữa no. Trong sử sách cổ, nhiều nạn nhân còn tỏ ra tê liệt, chấp nhận số phận bị ăn thịt như lẽ đương nhiên.

Thịt người rẻ rề, mạng người cũng không đắt hơn bao nhiêu.

Một ngày năm 1859, Hàm Phong nhà Thanh nói chuyện với bố chánh Phúc Kiến, nghe ông này kể rằng các dòng họ ở đây hay gây gổ đánh nhau. “Đội ngũ hai bên rất chỉnh tề: đại tộc giương cờ đỏ, tiểu tộc giương cờ trắng. Súng ống, đao thương, giáo mác… tóm lại là đủ mọi khí giới sẵn sàng. Nghe tiếng kẻng thì tiến, thấy lửa đốt thì lui. Đã đánh hăng thì quan phụ mẫu có đến cấm đoán khuyên răn, họ cũng mặc kệ.”

Vua hỏi, “Đánh nhau xong, giết chóc thương vong giải quyết thế nào?”

Bố chánh đáp, “Bên nào giết nhiều người hơn thì sẽ bị bên kia lôi ra quan mà bồi thường theo mạng.”

Vua hỏi, “Giá bồi thường mỗi mạng là bao nhiêu?”

“Nghe nói đã thỏa thuận trước, người nào chết thì thân nhân được nhận 30 đồng, bản thân người đó sẽ được lập bài vị trung nghĩa ở nhà thờ họ hoặc ở nơi công cộng để ằn nhang khói.”

30 đồng thời Hàm Phong, quy đổi theo sức mua ngày nay là tầm 7 triệu VND.

Nhưng triều Thanh cũng không phải là triều đại đầu tiên định giá mạng người. Việc dùng tiền của để chuộc tội, thậm chí chuộc mạng, đã có từ thời Nghiêu Thuấn.

Đến thời Kim quốc có quy định, “Giết người thì bồi thường 3 con ngựa hoặc 3 con bò.”

Tuy nhiên, hệ thống định giá mạng người hoàn chỉnh và chi tiết nhất được ghi nhận ở Tây Tạng. Thời Ngũ Thế Đạt Lai Lạt Ma, mạng người được chia thành 9 hạng, từ vô giá đến chỉ đáng một sợi dây cỏ:

1-5. Vua Tây Tạng và quan quách; tăng lữ, cho đến công chức: số vàng bằng trọng lượng cơ thể; 300 lạng bạc, cho đến 50 lạng bạc.

6. Dân thường: 40 lạng. 

7. Đàn ông độc thân, tạp dịch nha môn: 30 lạng. 

8. Thợ thuyền, đồ tể, ăn mày có nộp thuế: 20 lạng. 

9. Phụ nữ, lang thang, ăn mày: 1 sợi dây cỏ.

Đến thời Dân Quốc, mạng người không chỉ có giá niêm yết, mà còn có cả hệ thống thuật ngữ chuyên nghiệp. Ví dụ, khi thổ phỉ bắt cóc người rồi đòi tiền chuộc, chúng sẽ căn cứ vào phân loại đối tượng bị bắt cóc và thời hạn gia đình muốn trả về mà ra giá. Mức giá chuộc cao thấp phụ thuộc vào thời điểm muốn trả (ví dụ con gái chưa chồng, cần trả ngay trong ngày, không để qua đêm) và hoàn cảnh gia đình người bị bắt. Nhà giàu thường trả bằng tiền mặt, nhà trung bình thì trả bằng hiện vật. Tóm lại, đều là dùng của cải để đổi lấy mạng người, hay nói cách khác là “mua mạng”. Bọn thổ phỉ nắm giữ sinh mạng con tin, nên chúng có thể tùy ý định giá dựa trên nhu cầu của mình và thực tế xã hội.

Khi dân chúng phần lớn nghèo khổ, việc bắt cóc dần dà không còn lời lãi, mạng người cũng mất giá, bọn bắt cóc sẽ hạ thấp tiêu chuẩn.

Ngược lại, trong thời kì vật chất dồi dào, chúng sẽ đòi giá cao.

Nói cách khác, giá trị mạng người phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố kinh tế xã hội chứ không cố định, nhưng nhìn chung ở thời nào, người cũng không có tính thanh khoản cao như heo chó.