MỸ NHÂN

MỸ NHÂN

phicau

Chương 1: Lý Tam kể lể

Ai dám bảo tớ là Lý chảy thây nào?

Đứa nào bảo vậy là sai, sai bét. Nói đến chảy thây, thì phải là lão Trương Thịt Thủ ở đầu xóm. Lão ấy béo lắm. Nói không phải phép, đầu lão ấy to bằng cái ấm đun trà, bụng thì to bằng cái lu đựng c** mà nhà tớ vẫn hay dùng. Mặc dù khi nào ra ngoài đường là lão lại vận quần nhung áo lụa, kín như người ta chăm con son, nhưng cứ khi nào lão nhúc nhích là y như rằng từng tảng thịt trên người Trương Thịt Thủ lại lúc la lúc lắc, phèn phẹt như thằng tễu đánh hơi. Trương Thịt Thủ không biết đi. Không phải vì lão chưa tập đi giống thằng con cầu tự vợ lão mới đẻ tròn chín tháng, mà là vì chân lão bé quá, nhỏ như hai cái sào phơi áo mà vợ tớ vẫn dùng. Thử hỏi sào phơi áo thì làm sao gánh nổi lu đựng cứt đặt dưới ấm pha trà chứ? Mà nói đi cũng phải nói lại, nghe đâu thằng con cầu tự vợ lão đẻ cũng đã biết đi rồi. Trương Thịt Thủ mừng như người táo bón lâu ngày rặn được một bãi, cuống quýt sai gia nhân mở tiệc khao làng. Mẹ tớ nhân dịp này cũng phải mất đến nửa cân thuốc lá loại Cửu Cửu chính hiệu làm quà.

Ai dám bảo tớ là Lý chảy thây nào?

Nếu đứa nào bảo vậy, thì tuy ngoài mặt tớ vẫn cười hì hì, nhưng trong lòng là tớ để bụng rất lâu đấy. Rồi khi nhà hắn có hỉ sự hiếu sự gì, tớ còn lâu mới xông vào giúp. Nhà hắn bị mất trộm, tớ cũng còn lâu mới điều tra giùm. Ấy chết, nói thế đừng bảo tớ nhỏ nhen. Bởi vợ tớ đã nói, “ngốc ơi, tuy chàng cái gì cũng không bằng người ta, nhưng riêng phần độ lượng thì không ai bằng chàng”. Thấy chưa, chắc chắn  tớ không thể nhỏ nhen được, bởi vợ tớ nói gì cũng đúng. Vợ tớ nói gì cũng đúng, bởi vợ tớ rất giỏi. Từ khi lấy vợ, tớ đã biết đến mùi thịt heo ở cửa hàng lão Trương Thịt Thủ, đã biết thưởng thức rượu Bạch Cốt của quán Hí Trà Môn, thậm chí đến cái chức nha lại này cũng là do vợ tớ tậu về. Nhưng mà này, vợ tớ lại là do chính tay tớ rước vào nhà đấy nhé.

Còn nhớ cách đây ba năm, nhân một lúc hứng chí, lần đầu tiên tớ quyết định lên thị trấn. Nói về lí do thì dông dài lắm. Mẹ sinh ra tớ vốn khỏe mạnh, cầm chiếc rìu bốn chục cân mà như cầm con dao làm bếp. Vì vậy công việc chính của tớ là đốn củi. Thường ngày tớ hay đốn củi rồi bán cho Trương Thịt Thủ ở đầu làng. Bỗng hôm đó, tự dưng Vương Bát kéo tớ lại thì thầm to nhỏ thế này:

–       Này Lý Tam, một ngày đằng ấy chặt được bao nhiêu củi thế kia, sao không đem lên trấn. Hôm trước tớ thử mang chỗ nấm hái được lên tửu quán ở trên đó bán, kết quả là đủ tiền mua gạo ăn cho nửa tháng, không những thế còn thừa tiền mua cho con vợ ở nhà đôi giày gai nữa.

Tớ nghe vậy thì thích lắm, nhưng vẫn thấy ngại. Vương Bát tỏ ra là đã biết tớ lâu năm, hắn đi guốc trong bụng tớ luôn:

–       Đằng ấy sợ không biết đường chứ gì? Không sao, tớ sẽ dẫn đi. Chỉ cần đằng ấy vác hộ luôn chỗ nấm của tớ là được. Yên tâm đi, với số củi của đằng ấy thì phải kiếm được gấp mười lần tớ ấy chứ. Mẹ đằng ấy thì tớ sẽ bảo con vợ tớ sang trông. Ây chà, các bà ấy đều là lũ mọt lắm điều, gặp nhau thì gặm cả ngày không hết chuyện ấy chứ.

Vậy là tớ đồng ý đi với Vương Bát.

Sáng hôm sau, Vương Bát dậy sớm chạy qua giúp tớ sửa soạn các thứ rồi đi luôn. Đến trưa thì chúng tớ đã tới được trấn. Nghe Vương Bát bảo trấn này tên là Tây Hà. Cha chả, lần đầu tiên tớ đến một nơi đông người thế này. Tớ sững sờ chưa được bao lâu thì đã bị Vương Bát kéo tuột qua một đống hang cùng ngõ hẻm, cuối cùng vào một cái nhà. Nhà này to hơn cửa hàng thịt của lão Trương nhiều. Không chỉ bề ngang, mà cả bề rộng lẫn bề cao đều phải gấp mấy lần. Vương Bát bảo đây là Hí Trà Môn nổi danh khắp trấn Tây Hà. Tớ cũng chẳng biết hí cái gì danh cái gì, chỉ thấy Vương Bát bảo tớ lúi húi khiêng đám củi vào trong. Lúc tớ ra thì Vương Bát đã đứng ở ngoài từ lúc nào rồi. Hắn cười hì hì cầm lấy một cái túi, xóc lên xóc xuống ‘lẻng xẻng’, sau đó vứt cho tớ rồi bảo:

–       Đấy, của đằng ấy. Ông chủ bảo lần sau đến sớm thì sẽ được nhiều hơn nữa. Cố gắng ngày nào cũng mang đến cho ông ấy.

Lần đầu có tiền, tớ vui lắm. Tớ chỉ muốn ra cái giếng gần nhất làm một gáo nước đầy cho đã khát, sau đó chạy ù ngay về nhà với mẹ. Nhưng tớ chưa kịp làm gì thì Vương Bát đã gọi giật lại. Hắn đưa hai con mắt như hạt dưa liếc qua người tớ, rồi cười cười:

–       Lần đầu đến trấn, việc gì phải vội thế. Để tớ cho đằng ấy xem cái này.

Thế là lại một lần nữa, Vương Bát kéo tuột tớ qua một lô một lốc hang cùng ngõ hẻm. Nhìn ánh mắt hắn, tớ cảm tưởng hắn còn sốt ruột hơn cả tớ lúc nãy. Được một lát, Vương Bát dẫn tớ đến trước một cái nhà. Nhà này còn to hơn cả Hí Trà Môn tớ vừa vào, hơn nữa mặt trước cửa đều được gắn rèm thêu hoa, treo đèn lồng, màu sắc sặc sỡ hết mức. Hai bên nhà đều có các cô gái da trắng muốt như lông ngỗng, môi đỏ hơn tiết gà, vận y phục đẹp như thiên tiên giáng phàm. Ngoài ra, người các nàng ấy còn tỏa ra một thứ mùi còn thơm hơn cả nước gội đầu mà mẹ tớ vẫn đun. Tớ như người đang lạc vào cõi mộng, mê mẩn đến nỗi Vương Bát khua tay ra hiệu mà cũng chẳng hay. Đến lúc sực tỉnh thì hắn đã đi vào trong từ lúc nào rồi. Các tiên tử vẫn ra sức mời gọi, nói bằng giọng rất ngọt ngào mà từ xưa tới nay chưa bao giờ tớ được nghe:

–       Đại quan gia, đại quan gia vào đi nào. Đêm nay thiếp sẽ hầu hạ đại quan gia, làm đại quan gia đắc đạo thành tiên thì thôi.

Thực tình tớ cũng muốn vào lắm đi chứ. Có điều tớ sợ nhà to thế kia, vào trong mà không biết đường sẽ lạc mất. Mà chạy lung tung trong đó, người ta không biết lại tưởng là cướp là trộm, đánh cho một trận què chân thì toi. Què chân thì tớ sẽ chẳng thể tiếp tục đi đốn củi được.

Vậy là tớ cứ như thế, đứng bên ngoài chờ Vương Bát. Tớ chọn bậc thềm đối diện với cái nhà ấy, vừa ngồi vừa ngóng hắn. Ngóng mãi mà Vương Bát chưa ra, lại vừa khát vừa đói, cực chẳng đã tớ phải ngó ngang ngó dọc, cốt tìm ra thứ gì thú vị đặng để mà chú ý cho quên đi cái bao tử đang sôi òng ọc. Tớ cứ nhìn xung quanh mãi, cho đến khi bất chợt ngó lên.

Chương 2: Vạn nương trần tình

1

Ngốc ơi, vậy là mình đã quen nhau được ba năm rồi đấy nhỉ?

Ngốc còn nhớ lần đầu tiên thiếp gặp chàng là ở chỗ nào không? Chính là ở Tương Xuân viện đấy. Hôm đó, thực ra chàng không biết đâu, thiếp thực sự đang rất bực bội. Sao lại có một tên nha nội đáng ghét như thế chứ? Hắn ỷ mình là cháu ngoại của Hàn thái úy trên kinh thành, không coi đệ nhất danh kĩ Vạn Tích Hoa như thiếp ra gì.

Thiếp sáu tuổi được bán vào Tương Xuân viện, bảy tuổi học hát, tám tuổi học múa, đến chín tuổi đã biết làm từ vịnh phú, mười tuổi thì tinh thông lục nghệ. Kim ma ma giữ thiếp cho đến năm mười bốn thì bắt ra hầu khách lần đầu tiên. Khách lần đó là Tiêu trang chủ, cự phú khắp một vùng Tây Bắc. Lần đó, thiếp trổ hết tài học mà ma ma đã chỉ dạy, làm cho Tiêu trang chủ mê mệt, bảy ngày bảy đêm quấn lấy thiếp không rời. Tiêu trang chủ một đời phong lưu như vậy mà khen thiếp không ngớt. Từ đó, một đồn mười, mười đồn trăm, chẳng mấy chốc danh tiếng của thiếp đã vang tận tới kinh thành.

Chàng nghĩ như vậy thiếp sẽ rất vui ư? Không, chưa bao giờ thiếp thấy hài lòng cả. Sau những cuộc vui thâu đêm suốt sáng, không hiểu sao lòng thiếp lại cảm thấy nặng trĩu. Chờ cho khách ngủ say, thiếp thường ngồi tựa vào lan can phòng mình nhìn xuống. Thiếp thấy bác mõ già đêm nào cũng xách chiếc đèn lồng sờn nát dạo khắp bốn cửa năm phường, thỉnh thoảng lại hô to một tiếng báo hiệu canh mới, trông chẳng khác nào một chú đom đóm lập lòe. Thiếp thấy anh phu đen đúa mới tờ mờ sáng đã chạy qua chạy lại giao hàng, hệt như một chú chuột chù tất bật kiếm ăn. Nhưng đom đóm lướt qua, chuột chù rúc lại, muốn bay là bay, muốn nhảy là nhảy. Còn như thiếp, chẳng khác gì loài hồ điệp diêm dúa trên đèn kéo quân, người ta bảo quay là quay, bảo dừng là dừng. Trừ khi đèn cháy, còn không thiếp sẽ chẳng bao giờ thoát khỏi kiếp làm trò mua vui cho thiên hạ. Càng ngày, thiếp càng thấy chán nản. Vậy là năm mười bảy tuổi, thiếp quyết định lấy khăn che mặt lại, không tiếp khách nữa. Mặc cho các quý nhân nài nỉ, mặc cho Kim ma ma dọa dẫm, mặc cho tiền nghìn bạc vạn. Mỗi lần như vậy, thiếp đều dọa sẽ tự tử. Vậy là dần dần, Kim ma ma nản. Bà ấy nản cũng bởi thiếp có quan hệ rất tốt với Tiêu trang chủ. Nhưng Kim ma ma cũng chỉ buồn chán một thời gian thôi. Vì thiên hạ thấy ở Tương Xuân viện có sự lạ, kéo đến ngày càng đông. Trên đời sao lại có cái sự kĩ nữ đeo mạng không tiếp khách như thế? Vậy là Kim ma ma lại thu một kho tiền vào cửa. Thiếp từ đó cũng được thảnh thơi hơn chút ít.

Ngốc ơi, có nhớ lần đầu chàng nhìn thấy thiếp không?

Lúc đó, chàng đang ngồi ở bậc thềm đối diện Tương Xuân viện, co ro lại trước cơn gió bấc đầu mùa. Thiếp đã ngắm chàng từ rất lâu, trước khi chàng nhìn thấy thiếp. Lúc ấy thiếp rất lạ, bởi chàng đã đến đệ nhất thanh lâu trấn Tây Hà mà không vào. Tuy vậy, chàng cũng không như những bậc chính nhân quân tử khác, qua chốn cặn bã của nhân gian này mà không nhổ toẹt một bãi mà ngoảnh mặt đi. Thiếp đã ngắm chàng rất lâu, thật đấy. Đến lúc chàng nhìn lên thì thiếp đã bỏ mạng che mặt ra từ lúc nào. Thiếp muốn được thấy chàng rõ hơn. Lúc đấy chàng mặc bộ đồ vải gai đã sờn rách, tóc không búi mà buộc một túm ra sau lưng, cơ thịt ở tay ở ngực nổi lên cuồn cuộn trông dũng mãnh vô cùng. Vậy mà khi ngốc ngẩng lên nhìn thiếp, đôi mắt mở to, tròn xoe, không giống như sói thấy mồi, mà giống như trẻ nít lần đầu được mẹ may cho bộ quần áo đẹp vậy. Chàng đứng bất động phải đến một khắc, rồi bất thần cảm lạnh sổ mũi một cái thật to khiến người một băng tuyết mỹ nhân được thiên hạ xưng tụng như thiếp cũng phải phì cười. Thiếp đưa cho a hoàn Tiểu Trúc chiếc khăn, bảo nó xuống dưới tặng cho chàng để giữ ấm. Chiếc khăn đó, không ngờ đến tận bây giờ chàng vẫn còn giữ. Kể từ hôm đấy, ngày nào chàng cũng qua, đến đúng giờ đó, đứng đúng chỗ đó để nhìn thiếp. Chính sự kiên định đấy của chàng đã làm thiếp, lần đầu tiên, cảm thấy mình có thể sống. Và rồi thiếp đã gom góp tất cả số tiền dành dụm được trong bao năm để chuộc thân. Kim ma ma tiếc lắm, nhưng bà ấy sao làm khác được chứ? Tiêu trang chủ cũng ủng hộ thiếp. Vậy là thiếp từ bỏ tất cả để đi theo chàng, một chàng ngốc quê mùa không một xu dính túi. Tiêu trang chủ hơi lo cho thiếp. Nhưng theo cách mà ông ấy vẫn hay cân đếm, thì thiếp lại thấy mình quá hời rồi.

2

Đêm hôm qua, ngốc cứ nằm trằn trọc mãi làm thiếp không sao ngủ được. Cũng phải thôi, tại hôm nay chàng phải lên trấn mà. Chức nha lại mà thiếp kiếm được cho chàng, xem chừng cũng rắc rối thật. Cứ tưởng chàng làm nha lại ở làng này sẽ nhàn, chỉ việc lo báo tin ốm tin đau, bắt trộm gà trộm vịt. Ai ngờ đùng một cái quan trên có tráp, bảo chàng phải lên trấn ngay. Quan huyện bảo lần này huyện nha neo người, cẩn phải bổ sung gấp. Tráp trên còn bảo, việc lần này nếu làm tốt sẽ được trọng thưởng. Ngốc ơi, sao chàng lại mừng rơn thế kia, bánh vẽ to như vậy mà chàng cũng muốn ăn sao?

–       Nương tử, ta có thật là chảy thây không?

–       Sao sáng nay chàng cứ lẩm bẩm câu này mãi thế?

–       Tại vợ của phó Lâm nói thế. Phó Lâm bảo với ông Chu rằng, hôm trước Xú nương nhà gã chửi gã “anh lại mà nhìn nhà Lý Tam xem. Hắn chảy thây như vậy, sao lại làm được đến cái chức nha lại. Còn anh, tự cho là có học, sao giờ vẫn chỉ làm nghề mài mực viết thuê?” Nương tử, không lẽ ta lại giống như lão Trương thịt thủ ở đầu làng?

Ngốc ạ, sao chàng lại giống cục mỡ họ Trương đó được. Đêm nào chàng cũng cuốn lấy thiếp như rắn siết thỏ con, dính chặt thiếp như thạch sùng bám tường, thiếp còn sợ chẳng đủ sức hầu chàng nữa là.

–       Không phải đâu! Chàng đừng tin người ta nói xàm!

–       Nương tử, nghe nàng nói vậy, ta thấy giận phó Lâm lắm. Ta đã nghĩ từ nay nhà hắn có hỉ sự hiếu sự gì, ta sẽ không báo tin hộ nữa. Nhà hắn có trộm cướp, ta cũng sẽ không giúp. Liệu ta như thế có nhỏ nhen quá không?

–       Ngốc ơi, tuy chàng cái gì cũng không bằng người ta, nhưng riêng phần độ lượng thì không ai bằng chàng!

Còn nhớ ngày chàng rước thiếp về, tuy không có cờ quạt kiệu hoa, nhưng dân trong làng ra xem rất đông. Đầu tiên là thằng bé A Cửu mục đồng trông thấy thiếp. Nó đứng phỗng ra một lúc, nói không nên lời rồi chạy đi báo cho phó Lâm. Phó Lâm nhìn thiếp, mắt lồi ra có ngấn, sau đó hấp tấp lủi vào ngách gọi cho Xú nương và Trương Thịt Thủ. Kết quả là cả làng đều kéo ra xem mặt cô dâu mới nhà họ Lý. Ai cũng xì xồ chúc tụng cho chàng ngốc của thiếp đã cưới được một cô dâu đẹp như thiên tiên. Thiếp cũng thấy vui lây.

Tuy nhiên, vạn sự chẳng phải lúc nào cũng hanh thông như vậy. Lúc thiếp vừa ba quỳ chín lạy, nâng chén trà con dâu trước mặt mẹ chồng thì Vương Bát sấn đến. Hắn nói điều gì đó với Trương Thịt Thủ. Trương Thịt Thủ nhìn ngồn ngộn như đống phân có giòi, đang ngồi trên chiếc kiệu mây cũng cố nhoài người ra nghe. Rồi lão phất tay ra hiệu cho phó Lâm tới gần mình, rỉ rả một hồi. Chuyện đã đến tai phó Lâm thì sao Xú nương lại không biết? Vậy là một hồi lâu, cả xóm đều xì xào bàn tán. Người mặt nặng, kẻ mày nhẹ, anh này hí hửng, chị kia đỏ mặt, tất cả đều nhao nhao như chợ vỡ. Lúc này, Xú nương cũng đã ghé miệng mẹ chồng thiếp thầm thì mấy câu. Trong giây lát, thiếp chợt hiểu ra người ta đang bàn tán cái gì. Việc mà thiếp lo sợ nhất đã xảy ra. Lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt. Miệng lưỡi thiên hạ còn đáng sợ hơn cả lưới trời. Nhưng thiếp đã quyết rồi. Dù hôm nay không cưới được chàng, thiếp cũng không bao giờ quay lại chốn đó nữa.

Thiếp nhẹ nhàng đặt chén trà lên bàn, thong thả lạy mẹ chồng ba cái. Xong xuôi đâu đó, thiếp cởi bỏ mũ tân nương, quay đầu, định bụng hướng về nhánh sông cuối làng mà tới, bỏ lại sau lưng những tiếng lầm rầm xen lẫn vài điệu cười nhạt của lũ người đang khoái trá. Quãng sông kia sẽ là nơi trút bỏ tất cả nhơ bẩn của cuộc đời thiếp. Thiếp đã nghĩ vậy. Nhưng có lẽ cả đời này thiếp sẽ không làm được như thế.

–       Nương tử, nàng đi đâu?

Hai chữ “nương tử” nghe mới ngọt ngào làm sao. Cả người thiếp bỗng giật khựng lại, cổ tay bị một bàn tay rắn như thép siết chặt, ê ẩm. Chính là ngốc đã giữ thiếp lại. Chàng dường như vẫn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra, hỏi lại thiếp câu nữa.

–       Nương tử, tại sao nàng lại đi? Nàng với ta còn chưa bái lạy nhau cơ mà?

Vương Bát lúc đó đứng sau vợ, trong đám đông lúc nhúc, sốt sắng nói vọng ra:

–       Lý Tam, ngươi còn chưa biết sao? Ả là kĩ nữ đó.Vạn Tích Hoa, đệ nhất kĩ nữ của trấn Tây Hà. Ngươi bị quỷ sứ móc mắt rồi hay sao mà định cưới ả? Ả là hạng chuyên bán trôn nuôi miệng đó.

Hai chữ “kĩ nữ” nghe có vẻ xa lạ với chàng, nhưng “bán trôn nuôi miệng” thì chàng biết. Vì trước khi nhận lời chàng, thiếp đã kể cho chàng biết hết. Thiếp cũng bắt chàng phải giao kèo chuyện này tuyệt đối không được nói với ai, kể cả mẹ. Thiếp những tưởng ở vùng thôn quê hẻo lánh này, sẽ chẳng ai biết trên trấn Tây Hà có Tương Xuân viện, lại càng không thể biết trong Tương Xuân viện có một Vạn Tích Hoa. Nhưng thiếp đã lầm.

Nhưng ông trời không những để cho thiếp lầm lần thứ nhất, mà còn đùa cợt với thiếp tiếp đợt thứ hai. Đúng lúc thiếp tưởng như mọi chuyện đã an bài, thì chàng bỗng đột ngột nói lớn. Câu nói ấy, cả đời thiếp không thể nào quên.

–       Bán cái gì, nuôi cái gì? Lý Tam chẳng cần biết. Lý Tam chỉ biết muốn cưới Vạn Tích Hoa về làm vợ. Mọi chuyện khác Lý Tam không quan tâm.

Rồi  chàng quay về phía mẹ, cúi đầu thành khẩn nói:

–       Xin mẹ cho chúng con được kết nghĩa phu thê.

Tất cả mọi con mắt trong làng đều đổ dồn vào mẹ. Chàng có kể rằng mình vừa được hai tuổi thì cha đi quân dịch rồi bặt vô âm tín, mẹ chàng ở vậy nuôi con đến giờ. Nói vậy là thiếp cũng đủ hiểu tình cảm của bà với chàng là thế nào. Từ nãy giờ bà vẫn ngồi đó, lặng im không nói. Sau một hồi lâu, bà rướn thẳng tấm lưng đã gần còng gập cả xuống, mắt long lanh nhìn thiếp và chàng, sau đó lướt qua khắp một lượt như chiếu tướng tất cả mọi người có mặt trong nhà. Bà cố đảo đôi môi móm mém trên khuôn mặt đã hằn đầy nếp nhăn, nói chậm nhưng vô cùng cương quyết:

–       Ai không muốn chúc phúc cho đám cưới của Lý Tam con tôi, thì có thể đi về.

Thiếp lại nhầm lẫn lần thứ ba rồi. Ngốc đã độ lượng, nhưng mẹ chàng cũng độ lượng chẳng kém gì chàng.

–       Nương tử, chết rồi. Lần này muộn mất. Thôi, ta phải đi đây. Đi muộn là bị phạt. Mà phạt thì khéo không được thăng chức mất!

Chàng ngốc, chàng kêu toáng lên gì thế? Phạt một chút cũng được, không chức không quyền cũng chẳng sao. Thiếp chỉ cần chàng trở về an toàn mà thôi.

–       Nương tử, nhớ chăm sóc mẹ cho ta nhé!

Nhìn dáng chàng ngốc đang chạy vội ra cửa kìa. Lần này chàng đi xa mất những một tuần trăng đấy, phải cố giữ gìn sức khỏe. Mẹ và thiếp sẽ ở nhà chờ chàng.

Chương 3: Tú tài nghĩ ngợi

1

Trà hôm nay đắng ngắt.

Không phải vì đứa ở lười, không chịu đi mua loại trà thượng hạng ở tiệm của lão Đinh. Cũng chẳng phải vì vợ ta giở chứng, không chịu pha trà cho cẩn thận. Không, vừa mới đây thôi, mụ còn cẩn thận đặt trước ta một tách trà nghi ngút khói. Vậy thì rốt cuộc, trà đắng vì cái gì nhỉ?

Ngụm đầu tiên nhấp lên, quả thực là ta không thể chịu nổi. Nước trà vừa tuột qua đầu lưỡi, không theo đường thực quản trôi xuống dạ dày, mà bốc hơi qua mũi, lên thẳng đỉnh đầu, buốt đến tận óc. Vậy là ta không uống nữa, phun phì ra một cái, rồi tiện tay hất tách trà xuống nghe choang một cái. Vợ ta thấy ta như vậy, cũng hơi ngạc nhiên, nhưng mụ không dám hỏi han nhiều, chỉ khuyên ta đừng để ý đến công việc nhiều quá, nên chú tâm giữ gìn sức khỏe. Ta ậm ừ cho qua, gắt nhẹ bảo mụ về phòng. Vợ ta cũng chẳng dám nói nửa câu, để mặc ta một mình trong phòng. Ta suy nghĩ một lúc, và chợt phát hiện ra một điều. Vợ ta nói đúng. Rốt cuộc, trà đắng là vì công việc.

Ta vốn được sinh ra trong một gia tộc dòng dõi thi thư. Ông bảy đời của ta đỗ chức tiến sĩ đệ nhị giáp, từng làm tới chức thượng thư, đời đời ăn lộc triều đình, phụng sự hoàng thượng. Ông nội ta tuy học rộng tài cao nhưng không thích đi theo đường hoạn lại, chỉ một mực lo buôn bán. Nghe cha ta kể, nhà ta lúc đó giàu ức vạn, của nả không để đâu cho hết. Người ta vẫn nói bĩ cực thái lai, nhưng người ta lại quên nghĩ rằng cũng có thái cực bĩ lai. Chẳng biết nhà ta Thái từ lúc nào, nhưng đến đời ta thì cái gia tộc rệu rạo này bắt đầu bước vào quẻ Bĩ.

Cha ta, chẳng biết có phải sống sung sướng quá rồi không, mà tự dưng đâm đổ đốn. Ông bỏ mặc ngoài tai lời khuyên của họ hàng, bắt đầu bố thí tài sản của mình cho thiên hạ. Làm thơ làm văn thì có lẽ ông còn được hưởng chút xịu tài mọn từ cụ cố, nhưng về phần kinh doanh thì ông chỉ đáng làm một tên tiểu đồng mới học việc cho ông nội ta. Chẳng mấy chốc mà gia sản nhà ta đã tiêu tán hết. Lúc thì do cha ta tự nguyện hai tay bưng bạc dâng cho tửu lâu, kĩ viện, đổ phường. Lúc thì ngẫu nhiên mất cả khoảnh ruộng thẳng cánh cò bay cho bạn bè thân quyến. Sau này mẹ ta có bảo ông bị lừa, nhưng ta thì không tin. Vì đến cuối đời, ông vẫn sống rất vui vẻ. Bị lừa mà có thể sống được vui vẻ vậy sao?

Từ khi sinh ra, ta luôn được bao bọc bởi quá khứ huy hoàng của dòng họ. Ta còn nhớ mỗi lần ngồi trên chiếc giường bằng vải gai nệm rơm duy nhất của gia đình, cha ta thường âu yếm ôm ta vào lòng, thủ thỉ kể cho ta nghe về những món ăn ngon nhất mà ông đã từng nếm qua, rồi thế nào là một chiếc chăn bông ấm. Chăn ấm phải làm từ chất liệu gì, độ dày ra sao, có xuất xứ từ đâu. Những thứ thần tiên cổ tích đó đến giờ ta vẫn khắc sâu trong lòng, và đến khi ta hơi hiểu chuyện một chút, thì chúng chính là nguồn động lực giúp ta cố gắng nỗ lực, nỗ lực đến không ngừng nghỉ.

Ta học rất giỏi. Mới mười lăm tuổi ta đã đỗ thi hương, năm sau đỗ thi hội, đến hai mươi tuổi đỗ thi đình, được trực tiếp diện kiến đức hoàng thượng. Những tưởng cuộc đời của ta cứ thế lên như diều gặp gió, như nấm sau mưa.

Nhưng không. Có lẽ vận hạn của ta chỉ đến vậy. Ta ngồi chơi xơi nước ở kinh hai năm, mãi sau này mới được bổ đi làm thư lại cho quan huyện trấn Tây Hà. Hỡi ôi, tiến sĩ mà lại phải đi làm thư lại sao? Mãi sau này ta mới hiểu tại sao cái chức thư lại nó lại đến với mình một cách quá dễ dàng đến vậy. Đơn giản vì ta chẳng quen ai trong triều, lại càng không có bạc để quen được bọn họ. Mà thôi, làm thư lại vẫn còn hơn là ngồi chơi xơi nước. Được cái, quan huyện ở đây trọng cái danh tiến sĩ của ta nên đối đãi với ta rất tử tế. Có chuyện gì ông lớn cũng hỏi, chẳng khác nào Bái Công gặp Tử Phòng, Trương Tú được Giả Hủ khi xưa. Chẳng phải nếu coi trấn Tây Hà là một nước nhỏ, thì ta cũng đã nghiễm nhiên làm đến chức tể tướng rồi. Ta cũng lấy đó làm điều an ủi.

2

Sáng hôm nay ông lớn gọi ta vào thương nghị.

Lúc ta bước vào, thư phòng của ông lớn đang nghi ngút khói. Lúc nào có điều phải nghĩ ngợi là ngài lại thích đốt trầm hương. Trầm hương càng đặc, thì điều ông lớn đang băn khoăn lại càng lớn. Từ lúc gặp ngài đến nay đã có hai mươi năm lẻ, chưa bao giờ ta thấy căn phòng khê đặc mùi trầm hương như bây giờ. Bóng ông lớn lẩn khuất sau đám khói, mờ mờ ảo ảo. Qua tư thái của ngài, ta đoán ngài đang suy tính lung lắm, đến mức ta ở ngoài thưa mãi mà ngài không nhận ra. Chỉ đến khi ta mở cửa bước vào, đến tận bàn làm việc, ngài mới hơi giật mình, ngẩng đầu lên nhìn ta. Nhưng rồi ông lớn lấy lại ngay được phong thái vốn có, cười khà khà:

–       Ồ, Gia Cát của ta đây rồi. Ta chờ ông mãi.

Ai là Gia Cát của ông? Gia Cát để rồi cúc cung tận tụy, kiệt sức mà chết trên gò Ngũ Trượng sao? Ta chỉ muốn làm Trương Lương, Giả Hủ mà thôi. Nghĩ vậy nhưng dĩ nhiên ta luôn miệng kêu không dám không dám. Ông lớn lại càng cười lớn hơn, đứng ngay dậy, kéo ta ngồi xuống ghế của ngài. Ông lớn ân cần hỏi:

–       Dư tú tài, nghe nói ông thích uống trà hả? Nhà ta có loại trà Bách Mộc ngon lắm, muốn thử không?

Ta tự nhủ chắc ông lớn lại có chuyện gì muốn nhờ vả rồi. Nghĩ thế thôi chứ đời nào ta dám nói ra điều làm mất mặt ngài. Thôi thì đành làm ra vẻ bối rối một chút, xua tay lia lịa. Tất nhiên ông lớn đời nào bỏ qua cơ hội được hầu hạ một vị tú tài đã được chính hoàng thượng sắc phong? Ngài mặc cho ta lắp bắp, cứ thế tự tay pha một bình trà Bách Mộc thật ngon. Xem ra lần này có chuyện lớn rồi đây. Trà thượng hảo hạng, lại được bàn tay của chính quan lớn chế nước nên vị ngon tăng lên đến mấy phần. Chẳng mấy khi được đứng trên đầu vua một phương. Thôi thì đành phải tuân mệnh ông lớn vậy. Vừa nghĩ, ta vừa nhâm nhi tách trà thơm phưng phức.

–       Hiền Phi, ông biết Lý Tam chứ?

Ái chà, ông lớn đã xưng tên tự của ta rồi cơ đấy. Tất nhiên ta biết, ngài làm thế để cuộc nói chuyện của hai người thêm phần thân mật. Như vậy, những yêu cầu và hứa hẹn của ngài sẽ như được tẩm mật, rót vào tai nghe ngọt vô cùng. Ta đặt tách trà xuống, cung kính thưa:

–       Dạ bẩm ông lớn, hắn là nha lại ở trấn Tây Hà này. Hắn thuộc chi Ất, tức là hạng nha lại thấp nhất, thuộc quyền quản lí của tiểu nhân ạ.

Ông lớn thong thả vuốt râu:

–       Đương nhiên cái đó ta biết. Ý ta muốn hỏi ông là về gia đình hắn cơ!

Ta lại thưa:

–       Gia đình hắn ở làng Giáp, cách đây nửa ngày đường. Nhà hắn có ba người là hắn, một mẹ già và một nương tử mới cưới.

Ông lớn cười cười:

–       Ông biết nương tử của hắn chứ?

Ông lớn quả nhiên là ông lớn. Thích rông dài thì có thể vòng vo Tam Quốc cả nửa ngày, nhưng khi cần vào việc thì có thể chỉ cành bắt bướm ngay tắp lự. Ta cảm thấy giọng mình hơi run run:

–       Dạ bẩm, nương tử của hắn là Vạn Tích Hoa, trước từng làm kĩ nữ của Tương Xuân Viện. Không những là đệ nhất mỹ nhân của trấn này, mà tài sắc của ả còn nổi danh trong cả thiên hạ:

Đến đây thì ông lớn bỗng thở dài một cái:

–       Kĩ nữ nổi danh như vậy mà lại đi lấy một gã tiểu tốt, thật đáng tiếc thay. Nghe nói ả lấy Lý Tam là tự nguyện? Chuyện này ta theo dõi rất kĩ, nhưng nội tình bên trong thì tuyệt nhiên không hiểu. Ta cũng có gọi Lý Tam lên dò hỏi vài lần, nhưng hắn không bao giờ đề cập đến chuyện đấy một câu. Ông có biết gì không?

Ông lớn ơi là ông lớn, sao ngài cứ thích bông đùa kẻ tiểu nhân này mãi thế? Chuyện ta biết, chắc chắn ngài cũng sẽ biết, nhưng chuyện ngài biết thì chưa chắc ta biết. Mà dù ta có biết điều gì mà ngài không rõ, Dư tú tài học rộng tài cao này cũng đâu dám vuốt râu hùm. Nghĩ vậy, bỗng ta cảm thấy không rét mà run, hai vai rụt về, lưng khom hẳn xuống mà bẩm:

–       Điều này tiểu nhân không được rõ. Chỉ biết đằng sau ả chính là Tiêu Trường Nam, đại tài chủ giàu nức tiếng một phương. Tiêu đại tài chủ là cháu họ xa của Tiêu quốc cữu đương triều, người đông thế mạnh. Theo tiểu nhân thì đã có nhân vật như vậy chống lưng, ả họ Vạn đó làm điều gì mà chẳng được.

Ông lớn vê vê chòm râu dài mượt óng, khẽ hỏi ta:

–       Vậy nếu ta muốn cô ả Vạn Tích Hoa tài danh đó?

Lần này thì cơ thể ta không trụ nổi nữa. Toàn thân ta run lẩy bẩy, quỳ mọp xuống:

–       Ông lớn, tiểu nhân ngàn vạn lần xin ngài đừng làm thế. Dù ở trấn Tây Hà này, ông lớn vẫn là nhất, nhưng thế lực của Tiêu Trường Nam tuyệt đối không thể coi thường. Tiểu nhân còn nhớ hồi trước có một gã là Viên Hùng, cháu gọi Hàn thái úy trong triều là cậu ruột. Hắn ỷ thế cậu mình, ngang nhiên hống hách không coi ai ra gì, đi đến đâu là tác oai tác quái đến đó. Viên Hùng du hí đến đây liền vào thẳng Tương Xuân viện, đòi Vạn Tích Hoa phải ra bồi tiếp bằng được. Kết quả làm Vạn Tích Hoa phật lòng, Tiêu Trường Nam bốc hỏa. Sau đó Tiêu Trường Nam phái người đang đêm xông vào phòng trói gô tên họ Viên lại, dùng dao thiến lợn cắt cái roẹt của quý của hắn. Rồi sai Tiêu trang chủ lại cho đầy tớ treo nó ngay trước cổng thành ba ngày ba đêm, đến ngày thứ tư thì tẩm dầu đốt. Hàn thái úy giận tím mặt nhưng không thể làm gì được. Viên Hùng từ đó thành phế nhân, uất đến độ chẳng bao lâu sinh bệnh mà mất. Ông lớn, đụng vào ả họ Vạn này như đụng vào tổ ong đất. Sợ rằng chưa thấy mật đâu mà người đã bị ong đốt chết rồi. Không thể được, không thể được đâu!

Ông lớn chăm chú ngước xuống nhìn kĩ ta, à không, là nhìn kĩ bộ dạng thảm hại của ta một lúc lâu. Rồi ngài cúi người, rút trong tay áo ra một chiếc khăn lụa mềm mại, vừa từ tốn lau từng dòng mồ hôi đang chảy đầm đìa trên trán ta, vừa cười hì hì:

–       Hiền Phi, Tiêu quốc cữu vừa bị kết tội mưu phản. Một tuần trước hoàng thượng đã đem cả nhà y ra pháp trường chém rồi.

3

Trà vẫn đắng ngắt.

Đắng, không phải do việc ông lớn giao cho quá khó. Đây đâu phải lần đầu tiên ta làm những chuyện này. Ta làm nhiều, rất nhiều là đằng khác. Có điều, đây lại là lần đầu tiên ta xuống tay với chính thuộc hạ của mình.

Lý Tam tuy ngây ngô một chút, nhưng rất được việc. Gặp ta là hắn phủ phục xuống đất. Ta nhờ gì, hắn cũng không dám từ nan.

Ông lớn cũng thường hay khen ta rất được việc. Ông lớn muốn làm Tây Môn Khánh.

Ả họ Vạn vợ hắn cũng biết điều. Lần nào lên trấn Tây Hà này, Lý Tam cũng có quà cho vợ ta. Khi thì con gà, khi thì mảnh lụa.

Mụ vợ của ta cũng thường có quà cho quan bà nhân dịp lễ. Ông lớn muốn vợ ta làm Vương bà bà.

Lý Tam ơi Lý Tam, ông lớn muốn làm Tây Môn Khánh, muốn mụ vợ ta làm Vương bà bà, muốn ngươi làm Võ Đại Lang. Số ngươi có nương tử họ Phan, nhưng lại không có em trai biết đánh hổ. Chỉ nên trách ngươi quá đen đủi mà thôi!

*

*  *

Chương 4: Ông lớn xử án

1

Công đường im phăng phắc. Trước mặt mỗ là hai hàng sai nha mặc quần áo chỉnh tề, ai nấy cầm gậy đứng nghiêm như tượng, kéo dài từ trong nội đình ra tới tận cửa. Bên ngoài, đám dân đen lố nhố đứng thành bầy. Tất nhiên rồi, lần này phạm nhân là người của huyện nha, hạng người ngày thường vẫn thét ra lửa, xem ra cũng phải có chút khác biệt. Tuy nhiên dưới sự uy nghiêm của mỗ, chúng không dám nói to, chỉ ghé tai nhau xì xồ, chốc chốc lại nhô người nhòm vào bên trong công đường, một là để tận mắt chứng kiến oai phong của quan lớn, hai là để xem tên tội phạm giết người kia sẽ bị xử lí như thế nào.

Mỗ nghiêng mắt nhìn xuống dưới. Ở giữa sảnh là một kẻ mặc quần áo phạm nhân màu trắng đã ngả cháo lòng, mắt sưng vù đến nỗi nhìn chẳng thấy nổi tròng đen, máu chảy từ trên đầu xuống tận cằm, đông lại thành từng dòng nâu thẫm. Y nằm phủ phục dưới đất như một con chó, không, nói đúng hơn là rũ người ra như một con chó ăn phải bả, tay chống dưới đất xiêu xiêu vẹo vẹo, tựa hồ như sắp ngã đến nơi. Tất nhiên mỗ biết đó chính là Lý Tam, càng biết Lý Tam đã phạm tội gì. Tuy nhiên theo phép tắc, mỗ vẫn phải để cho Dư tú tài đọc lại hành trạng của y.

Gã họ Dư từ trên cái bàn bên cạnh bục xử án bước ra, khom người vái ta một cái, rồi quay mặt ra trước sảnh chính, dõng dạc đọc:

–       Lý Tam thuộc huyện Tây Hà, vốn là nha lại trong xóm Giáp. Năm … thứ …, vào tháng… ngày… giờ… , trong lúc được phân công lên trấn Tây Hà coi ngục, đã dùng thuốc độc trộn vào phần thức ăn cho phạm nhân, hại chết Triệu Tứ. Nguyên nhân, theo bản quan bước đầu tra xét, xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân. Triệu Tứ vốn đã từng buông lời thóa mạ Lý Tam, vì vậy Lý Tam từ lâu đã có ý oán. Được dịp Triệu Tứ trộm vặt bị bắt giam vào ngục, Lý Tam đã thừa cơ hạ độc thủ. Giết người đền mạng, việc đã quá rõ. Tuy nhiên trong quá trình thẩm tra, y một mực kêu oan. Nay bản quan mở một buổi nghị án công khai cho tất cả dân chúng tới xem, để biết được sự công minh của pháp luật. Nếu quả thật Lý Tam bị oan, bản quan sẽ thả y ngay. Còn nếu Lý Tam có tội, bản quan chắc chắn sẽ không vì y là sai nha mà nương tay. Nay thông cáo cho toàn huyện Tây Hà biết để mọi người được rõ. Năm… thứ…, tháng… ngày… giờ…, tri huyện Tây Hà, Trác Hữu Ngôn.

Dư Hiền Phi quả không hổ danh là tú tài. Giọng y rất uyển chuyển, lúc lên bổng khi xuống trầm, quả thật cực kì có sức hấp dẫn. Y vừa nói xong, đám dân đen bên ngoài cửa lập tức trở nên hỗn loạn. Mỗ liền búng tay một cái, tên sai nha đứng bên cạnh liền hiểu ý chạy ra. Lát sau y chạy vào, cung kính thưa:

–       Bẩm ông lớn, ở ngoài có một ả tên là Vạn Tích Hoa, nói là chồng mình bị oan. Ả đòi vào cho bằng được. Hiện bọn tiểu nhân đã tạm giữ ả lại, nhốt vào phòng biệt giam rồi ạ.

Ồ, Vạn Tích Hoa. Cuối cùng thì nàng cũng đã đến. Mỗ biết nàng sẽ đến mà. Dưới pháp lực thần thông quảng đại của mỗ, nàng có chạy đằng trời. Nhưng mỗ không thể để nàng ở ngoài kia được. Nàng không vào, tất nhiên nàng sẽ không có cơ hội chứng tỏ thành ý. Nàng không vào, ông lớn này cũng không thể có cơ hội chứng tỏ tấm lòng của mình. Để vở kịch hay này được diễn ra, hai chúng ta đều phải có mặt.

Mỗ bèn giơ tay, giáng cho tên sai nha một cái tát như trời giáng. Y không ngờ mình lại bị đánh, nhưng một tiếng ‘a’ cũng không dám kêu, thậm chí cũng chẳng dám đưa tay ôm mặt, chỉ biết cúi đầu xuống. Mỗ chỉ vào khuôn mặt đỏ bừng hằn sâu năm vết ngón tay kia, quát lớn:

–       Quan với dân như cá với nước. Không có nước thì làm sao cá sống được? Ngươi mới làm đến chức này mà đã hống hách, sau này sẽ còn như thế nào nữa, hả?

Tên sai nha hoảng sợ quỳ mọp xuống đất, miệng rối rít:

–       Tiểu nhân có tội, tiểu nhân có tội.

Mỗ không lí gì đến hắn nữa, phăm phăm bước ra phía cửa. Đoạn mỗ chắp tay về phía đám đông, nghiêm trang nói:

–       Kính thưa các vị hương thân phụ lão cùng toàn thể dân chúng huyện Tây Hà, hôm nay bản quan tổ chức một buổi nghị án tại công đường của huyện nha. Đây không phải là lần đầu tiên bản quan lên công đường. Tuy nhiên do tính chất đặc biệt nghiêm trọng của vụ án, lần này bản quan phá lệ, sẽ cho các vị hương thân, các bô lão có uy tín cùng người nhà của cả kẻ phạm tội lẫn nạn nhân vào trong xem.

Nói đến đây, mỗ liếc mắt nhìn qua một lượt. Tiếng xì xào đã dứt hẳn. Đến khi thấy tất cả mọi người đều chăm chú nhìn vào mình, mỗ mới hắng giọng, nói tiếp:

–       Thiên tử phạm pháp, tội cũng như thứ dân. Dù có là vương công quý tộc gì chăng nữa, bản quan cũng quyết không nương tay. Làm như vậy, không những chứng minh được sự công bình của bản quan, mà còn thể hiện được sự oai nghiêm của triều đình, sự sáng suốt của hoàng thượng. Bay đâu, bày sẵn ghế ở trong sảnh rồi đón tiếp các vị hương thân phụ lão vào mau! Còn nữa, hãy đưa ả vừa tự xưng là vợ của phạm nhân Lý Tam lên công đường cho ta.

Mỗ nói đến đây, mọi người ồ lên. Rồi một tràng pháo tay vang lên giòn giã. Vở kịch khai màn.

2

–       Phạm nhân bên dưới, hãy khai cho ta. Ngươi tên họ là gì?

Lý Tam lúc đó đang gần như bò sóng soài trên nền đất, miệng phì phò những gì không rõ. Y gần như đã kiệt sức. Nên như vậy. Y nên như vậy. Nếu mỗ không mạnh tay như thế, liệu nương tử của y có đau xót không?

Dư Hiền Phi ngó xuống nhìn Lý Tam một hồi, đoạn quay về phía mỗ bẩm:

–       Bẩm ông lớn, kẻ dưới công đường kia đích thị là Lý Tam. Y bị bắt giam đã mấy ngày, có lẽ do cứng đầu không nhận tội nên các sai nha có hơi mạnh tay. Lại do y từ khi bị bắt không chịu ăn uống gì nên thân thể suy kiệt, hiện không còn sức mà nói nữa ạ.

–       Được rồi, biết y là Lý Tam là được. Vậy rốt cuộc vụ án này thế nào, ngươi hãy kể lại cho mọi người nghe.

Dư Hiền Phi chăp tay, nói một mạch rất lưu loát:

–       Thưa ông lớn. Vào ngày giờ đã nói như trên, Lưu Nhị Phát là đầu bếp của nha huyện đến thu dọn thức ăn của phạm nhân thì thấy phần thức ăn của Triệu Tứ tung tóe, bát đĩa vỡ cả. Lưu thúc tưởng y lại giở trò như mọi hôm, rủa xả vài cái. Bình thường Triệu Tứ vẫn hằm hè chửi bới ghê lắm, vậy mà hôm nay y vẫn nằm im bất động, thậm chí Lưu thúc đến lay mãi mà vẫn không chịu dậy. Lưu thúc đâm hoảng, vội báo cho sai nha thì mới biết Triệu Tứ đã chết từ lúc nào rồi. Khám nghiệm pháp y cho thấy miệng y sùi bọt mép, mắt trợn ngược, móng tay tím tái, rõ ràng là chết vì độc phát.

Đến đây, mỗ liền truyền cho Lưu Nhị Phát vào. Lão già này niên kỉ tầm trên sáu chục, làm việc trong huyện nha đã ngót nghét được hơn ba mươi năm, mắt đã chậm, tai đã già. Đợi cho Lưu Nhị Phát quỳ xuống xưng xong tên họ rồi nghe lại cáo trạng, mỗ mới hỏi:

–       Lưu Nhị Phát, điều mà cáo trạng nói có đúng không?

Lưu Nhị Phát liền bẩm:

–       Thưa ông lớn, tất cả đều là sự thật, không sai chút nào ạ.

Mỗ nghe vậy liền quay ra hỏi Dư Hiền Phi:

–       Dư thư lại, tại sao ngươi lại cho rằng Lý Tam đã phạm tội. Nếu Lưu Nhị Phát là người đưa thức ăn, chẳng phải ông ta cũng có cơ hội bỏ độc sao?

Lưu Nhị Phát nghe mỗ nói vậy, hoảng hốt cúi đầu lạy như tế sao. Dư tú tài liền thưa:

–       Thưa ông lớn, tuy Lưu Nhị Phát là người chế biến các món ăn cho các phạm nhân, nhưng y chỉ có nhiệm vụ mang nó đến rồi giao cho sai nha gác ngục. Gác ngục sẽ chia thức ăn ra từng phần lượt lượt cho phạm nhân. Giả sử Lưu Nhị Phát rắp tâm bỏ độc vào thức ăn thì không chỉ Triệu Tứ mà tất cả các phạm nhân trong ngục đều đã thành người thiên cổ. Do vậy, tiểu nhân nghĩ rằng người duy nhất có thể bỏ độc chính là Lý Tam, kẻ có trách nhiệm canh gác hôm đấy.

Dư Hiền Phi nói xong, mỗ liền hé mắt nhìn qua một lượt bên dưới. Mắt mỗ lướt tới các vị hương thân thì thấy các vị ấy đang thao thao bất tuyệt, miệng phun phì phì không ngớt. Mắt mỗ lướt tới đám thân nhân của Triệu Tứ, thì thấy họ chấm tay áo liên hồi, nước mắt như mưa. Mắt mỗ hướng tới Vạn nương, thì thấy nàng ngồi tách hẳn ra một mình, mắt nhìn đau đáu vào Lý Tam. Dưới chiếc cổ thon dài trắng muốt, đôi vai nàng thỉnh thoảng lại rung lên từng chặp, nhìn càng yểu điệu dễ thương. Nàng đang cố nhịn, hay giả vờ mình đang cố nhịn? Mụ vợ thối thây của gã họ Dư kia chưa nói chuyện với nàng sao?

Đến đây, mỗ liền cao giọng:

–       Lưu Nhị Phát đã là nhân chứng. Vậy vật chứng đâu? Không có vật chứng, bản quan vẫn không thể khẳng định Lý Tam là hung thủ hại chết Triệu Tứ.

Chỉ chờ có thế, Dư tú tài liền khoát tay ra hiệu. Một tên sai nha liền từ ngoài chạy vào, đem theo một cái gói nho nhỏ để vừa vặn trong lòng bàn tay, trông giống như gói thuốc. Y đặt gói thuốc trên bàn làm việc của ta, đoạn thưa rằng:

–       Bẩm ông lớn, hôm qua bọn tiểu nhân đã tìm thấy gói thuốc này trong y phục của Lý Tam. Chắc hẳn đây chính là gói thuốc độc hắn đã chuẩn bị để giết Triệu Tứ.

Đến đây, Vạn nương đột ngột quỳ xuống, nói lớn:

–       Xin ông lớn minh xét. Nếu nhà con muốn hại chết Triệu Tứ, rõ ràng phải tìm cách phi tang vật chứng. Anh ấy có ngốc đến đâu cũng chẳng thể để nguyên gói thuốc đấy trong người. Con xin ông lớn minh xét cho.

Lời Vạn nương nghe rất thống thiết, và cũng không phải là không có lí. Vẻ đẹp của nàng càng làm thêm sự có lí tăng gấp bội. Đám đông bắt đầu xôn xao.

Mỗ liền hỏi Dư Hiền Phi:

–       Dư thư lại, ngươi thấy sao?

Gã họ Dư liền bẩm:

–       Thưa ông lớn, tiểu nhân cũng có nghĩ tới điều này. Lý Tam định sẽ phi tang gói thuốc, nhưng y không thể chạy ra ngoài trong khi canh gác được. Vì bên ngoài có một lớp sai nha bảo vệ nữa, nếu ra sớm sẽ bị phát hiện ngay. Có lẽ y định chờ đến khi họ đổi ca để lẻn ra ngoài. Không ngờ chưa đổi ca thì Lưu Nhị Phát đã đến…

Mỗ lại nhìn Vạn nương. Nãy giờ nàng vẫn phủ phục xuống đất, chẳng rõ đang khóc hay cười. Xem ra mỗ không bồi thêm một nhát chí mạng thì không được. Mỗ liền từ từ bước xuống, đến gần Lý Tam, đặt một tay lên vai y rồi nhẹ nhàng hỏi:

–       Lý Tam. Hiện giờ mọi bằng chứng đều đang chống lại ngươi. Bản quan chưa bao giờ, và cũng không bao giờ muốn làm khó dễ ngươi. Bản quan nghĩ rằng, nếu ngươi không làm điều gì xấu thì cứ nói thẳng, chắc chắn ông trời sẽ không để ngươi phải thiệt thòi. Còn nếu ngươi đã trót gây ra điều không phải thì cũng đừng quanh co chối tội, biết đâu sẽ được triều đình khoan hồng. Giờ bản quan sẽ hỏi ngươi một câu, hãy trả lời thành thực cho ta biết, được không?

Lý Tam ngước lên nhìn mỗ, rồi gật đầu lia lịa. Mỗ liền hỏi:

–       Gói thuốc trên bàn kia có phải là của ngươi không?

Lý Tam gật đầu.

Cả đám đông một lần nữa lại ồ lên. Mỗ bèn giơ tay ra hiệu im lặng, rồi nói với Lý Tam:

–       Ta hiểu rồi. Lý Tam, ngươi làm tốt lắm.

Đoạn mỗ quay lại phía đám đông, đề khí nói lớn:

–       Thưa các vị hương thân phụ lão cùng toàn thể bà con! Xưa nay luật pháp nghiêm minh, giết người thì phải đền mạng…

–       Ông lớn, xin ông lớn tha mạng cho nhà con. Xin ông lớn tha mạng. Chỉ cần nhà con còn sống, con nguyện sẽ kết cỏ ngậm vành, đời đời làm thân trâu ngựa cho ông lớn. Xin ông lớn…

Người vừa nói đương nhiên là Vạn nương. Nàng vừa nói vừa khóc rất thảm thiết. Cuối cùng thì nàng cũng chấp nhận. Nàng phải hiểu, mỗ không hề ra giá với nàng. Mỗ đường đường là mệnh quan của triều đình, sao có thể dùng việc công để làm lợi cho việc tư? Chẳng qua chỉ là mỗ giúp chồng nàng, lại được thêm vợ chồng nhà Dư thư lại khuyên nhủ, nàng cảm kích nên muốn đền ơn mà thôi. Tất cả dân chúng ở đây đều thấy mỗ rất công minh, vì vậy chẳng ai có thể dựa vào chuyện này mà gây điều tiếng cho mỗ cả. Mỗ vẫn là ông lớn thanh liêm được người người ngưỡng phục của trấn Tây Hà này.

Không để Vạn nương nói hết câu, mỗ liền lớn tiếng:

–       Vạn nương, cô không được nói bậy. Là mệnh quan của triều đình, bản quan có bổn phận làm tròn chức trách. Bản quan sẽ không vì tình riêng mà làm trái với đạo lí đâu. Lý Tam có phạm tội hay không, bản quan sẽ có cách giải quyết.

Giọng của mỗ tuy nhịp điệu có vẻ hòa nhã nhưng lời lẽ đanh thép, câu nào câu nấy nói ra đều rất có uy làm toàn trường chấn động. Ngoại trừ Vạn nương đang im thin thít thì mọi người đều xuýt xoa khen hay. Mỗ chờ cho không khí dịu xuống, lại nói tiếp:

–       Vừa rồi như bản quan đã nói, luật pháp nghiêm minh, giết người thì phải đền mạng. Chuyện tính mạng con người là một việc rất quan trọng, vì vậy ta sẽ phải kiểm tra thật kĩ, không để các sai lầm đáng tiếc xảy ra.

Rồi mỗ quay về phía án thư, lấy gói thuốc trên bàn đưa cho một tên sai nha gần đấy:

–       Người đâu, hãy kiếm một con hung cẩu lên đây cho bản quan thử thuốc.

Tên sai nha liền lật đật chạy đi.

Vạn nương, còn chờ gì nữa mà chưa chịu làm trâu làm ngựa cho mỗ?

Màn kịch này…

3

–       Ngươi nói vậy là sao? Nếu thuốc sai nha mang tới là thuốc bổ, lỡ như thiên hạ muốn thử thuốc thì chẳng phải mọi việc đều đổ bể à?

–       Bẩm, không phải lỡ như, mà chắc chắn ông lớn sẽ cho thử thuốc. Thứ nhất, thuốc bổ này là do tiểu nhân giới thiệu cho Lý Tam, bảo y mua để mang về biếu mẹ. Tất nhiên tiểu nhân sẽ bảo hắn thử trước, do vậy hắn không nghi ngờ gì. Lúc khám y phục có cả y và Lưu Nhị Phát ở đấy, y lại càng không thể chối. Nếu Vạn nương từ đầu đã có ý quy thuận ông lớn thì chuyện sẽ chẳng nói làm gì. Thuốc thử chó không chết, ông lớn chỉ việc giả vờ cho điều tra lại rồi thông báo Triệu Tứ trước đó đã có bệnh phải dùng thuốc độc, lại ăn phải thức ăn có đồ lạ, hai thứ công phạt lẫn nhau, sinh độc mà chết.

–       Nếu không thì sao?

–       Còn nếu không thì chính cái gật đầu của Lý Tam ở công đường sẽ hại chết hắn. Ông lớn vẫn vô cùng khách quan. Không chỉ dân chúng, mà đến cả Vạn nương chưa chắc đã có nghi ngờ gì. Ông lớn chỉ cần giấu một gói thuốc độc có bề ngoài giống hệt như vậy trong tay áo, nhanh tay tráo đổi. Chó chết thì Lý Tam cũng sẽ toi mạng theo, không sớm thì muộn Vạn nương cũng sẽ về tay ngài.

Dư tú tài ơi là Dư tú tài, ngươi quả là cái túi khôn của mỗ. Mưu kế như vậy mà ngươi cũng  nghĩ ra được. Ông lớn đây vẫn là ông lớn, trong con mắt mọi người sự thánh thiện, công bình của mỗ vẫn không hề suy chuyển.

Vạn nương ơi vạn nương…

Vạn nương ơi vạn nương…

Chương 5: Mỹ nhân giết mỹ nhân

1

Màn kịch này vẫn chưa kết thúc.

Phải. Phu quân ơi, thiếp biết rằng, màn kịch này vẫn chưa kết thúc.

Hôm đó tại công đường, lão đã có nói với thiếp rằng ‘Vạn nương à. Vợ chồng cô thật may mắn, từ bùn đen nay lại có thể ngoi lên rồi’. Thiếp đã quá hiểu lão. Lão muốn ám chỉ rằng, lão đã có thể móc chúng ta từ bùn đen lên, thì lão cũng có thể một lần nữa dìm chúng ta xuống đáy. Không phải là đáy bùn đen, mà là đáy vực sâu, đáy địa ngục, đời đời không được siêu sinh, đời đời không thoát ra được khỏi bàn tay của lão.

Ngốc ơi, nhìn chàng ngủ ngon lành như vậy, thiếp thấy vừa vui vừa buồn. Vui vì chàng đã tai qua nạn khỏi. Nhưng thiếp buồn vì chàng mới thoát được một tiểu kiếp. Rồi đây khi tiểu kiếp, rồi đại kiếp, đại đại kiếp ào ào xô tới nữa, chúng mình sẽ chống đỡ làm sao? Màn kịch này vẫn chưa kết thúc. Khi nào thiếp bước vào trong, hạ màn chiếc giường của lão quan huyện đốn mạt đó, vở kịch mới kết thúc. Mà đó cũng chỉ là một vở kịch nhỏ mà thôi. Rồi ngày nào thiếp cũng phải đóng kịch, ngày nào cũng phải hạ màn. Hạ màn với lão, đóng kịch với chàng. Ngốc ơi, số chúng mình thật khổ.

2

Trông điểm canh một vừa dứt. Mẹ và chàng đều đã ngủ say. Thiếp trở dậy bước xuống nhà, đun nước tắm cho sạch sẽ, xong xuôi đâu đấy xức nước tô son. Xong rồi thiếp chọn y phục. Đồ mặc hồi còn ở Tương Xuân viện trước khi về nhà chàng thiếp đã bỏ từ lâu, còn áo chàng mua cho thiếp lại không muốn mặc. Lần lữa mãi, thiếp mới chọn được một bộ. Rồi thiếp mở cửa, men theo con đường quanh co ra đầu ngõ. Đường nhà chàng đã quen nên thiếp đi mà chẳng cần dò dẫm, chẳng mấy chốc đã thấy một chiếc xe ngựa nho nhỏ chờ sẵn tự khi nào. Lão ấy đã y hẹn, cho một tên lâu la chờ sẵn ở đây. Thiếp vén rèm xe bước vào.

Xe ngựa chạy bon bon không nghỉ, chẳng mấy chốc đã đến trấn Tây Hà. Thiếp lại bước xuống xe, đi kiệu hai người khiêng, len lỏi qua ngõ to xóm nhỏ, chẳng mấy chốc đã đến cửa sau một tòa nhà bề thế. Tên phu kiệu ra hiệu cho thiếp bước xuống, rồi y gõ nhè nhẹ vào cánh cổng. Từ cánh cổng, lại có một ả a hoàn đưa thiếp vào. Một đường rẽ, hai đường rẽ, ba đường rẽ… Mải miết một lúc, cả hai dừng lại trước một căn phòng lớn. Rồi chẳng nói câu nào, ả a hoàn tự động lui ra. Có lẽ ả nghĩ đến đây thì thiếp đã tự biết mình phải làm gì.

Thiếp mở cửa, nhón chân bước vào nhẹ như một chú mèo hoang. Trong phòng mùi trầm hương nồng nặc. Thiếp cảm thấy lợm giọng. Nhưng thiếp không thể nôn được. Nếu nôn thì bao nhiêu công tắm rửa, bao nhiêu dầu thơm son đỏ của thiếp sẽ hỏng hết. Phòng tối như bưng làm thiếp cảm thấy sợ. Chẳng phải thiếp sợ ma, mà thiếp sợ người. Nhiều người còn đáng sợ hơn ma. Đang lúc thiếp nghĩ ngợi lung tung thì bị một bàn tay người từ đằng sau ôm chầm lấy. Thiếp kêu khẽ một tiếng:

–       Ông lớn, là ông…

–       Suỵt.

Lão chẳng nói chẳng rằng, tay phải bịt lấy miệng, tay trái sờ ngực, khóe miệng tham lam rờ rẫm khắp người thiếp.

Sột soạt.

Một chiếc nút áo bật tung.

Sột soạt.

Nhiều chiếc nút áo bật tung.

Thiếp nghe thấy tiếng thở khò khè của lão. Hai bàn tay của lão nhún nhẩy, chỉ thiếu nước ăn sống nuốt tươi thiếp. Rồi lão vồ thiếp như hồ đói, quặp thiếp thảy lên giường. Cả tấm thân đầm đìa mồ hôi của lão nhao về phía thiếp. Lão cắn, lão xé. Miệng lão mở to. Mắt lão nhắm nghiền.

Nhưng mắt thiếp không nhắm. Thiếp nhìn thấy ánh sáng nhờ nhờ từ phía xa. Là ánh sáng của Ngọc Hoàng Đại Đế, Phật Tổ Như Lai hay Quan Âm Bồ Tát xuống giúp thiếp đây?

Cạch.

Cửa mở. Dường như phát hiện ra điều khác thường, lão ngừng lại. Mặt lão miễn cưỡng rời khỏi người thiếp. Lão nheo mắt nhìn ra ngoài. Ánh đèn lồng leo lét đã trở nên quá sáng với lão. Thiếp cũng nhìn ra. Một dòng người như thác lũ đổ ào ào vào thiếp. Người ta đấm. Người ta đá. Người ta đập. Thiếp lăn lê bò toài từ trên giường xuống dưới đất, bỏ lại lão già vừa hừng hực sức chiến đấu giờ đang nằm thu lu một chỗ, mặt ngơ ngẩn như người mất hồn.

Đánh đập một lúc thì cả đám người dãn ra. Cả phòng rực sáng ánh đèn. Từ bên ngoài, một người đàn bà ngoại tứ tuần, hai bên đều có a hoàn dìu đỡ bước vào. Bà liếc đôi mắt khinh bỉ về phía cuối giường rồi quay về phía thiếp, lạnh lùng nói:

–       Ra là con dâm phụ này.

Bà cúi sát người thiếp, đoạn tháo chiếc trâm cài đen nhánh xuống, lướt qua lướt lại trên đôi má mịn màng của thiếp. Rồi bà bảo:

–       Ngươi xem, hạng hồ ly tinh chuyên dùng sắc đẹp để quyến rũ chồng người thì đáng phải chịu tội gì?

Thiếp chỉ chờ có vậy, vội chộp lấy tay bà. Rồi thiếp cầm chặt chiếc trâm, chặt như chưa bao giờ chặt đến thế, rạch từng nét, từng nét sâu hoắm lên mặt mình. Trâm đi đến đâu, máu ràn rụa đến đấy. Chẳng mấy chốc mà mặt thiếp đã chằng chịt vết rách. Máu và nước mắt hòa lẫn với nhau, chảy qua khóe miệng tan vào đầu lưỡi. Không phải thiếp khóc vì buồn đâu. Thiếp đang vui lắm. Thiếp nhìn bà lớn, nghẹn ngào:

–       Đời này kiếp này con đội ơn bà lớn!

Bà lớn hơi sững người một chút. Cơ mặt bà giật giật, biểu lộ một cảm giác khó tả.

Không ai biết bà lớn nghĩ gì. Chỉ biết rằng sáng hôm sau, người ta đưa thiếp lên xe ngựa rồi trở về nhà.

Dư tú tài đã giữ đúng lời hứa. Lão được hồi môn của thiếp, còn Vạn nương được sống với chàng.

Chương kết: Mỹ nhân vẫn là mỹ nhân

–       Nương tử ơi, nàng ở đâu rồi? Cùng ta vào rừng nào.

Sáng nay, đừng ai bảo tớ là Lý chảy thây nữa nhé.

Tớ phải đi lấy củi bán cho lão Trương Thịt Thủ ở đầu làng, đặng còn có tiền mừng ông lớn Dư. Hôm trước ông lớn Dư có qua nhà, tặng cho vợ tớ một ít lụa là. Vậy thì vợ chồng tớ cũng phải đáp lễ, mua lại cả cân thuốc lá Cửu Cửu làm quà chứ. Chẳng phải ai cũng được ông lớn tặng quà, và tặng quà lại cho ông lớn thế đâu.

Giờ thì tớ biết tại sao các đằng ấy lại gọi tớ là Lý chảy thây rồi. Ý là các đằng ấy bảo tớ lười, đi đốn củi mà cũng phải có vợ dắt mới chịu đi phải không? Tớ tiết lộ cho các đằng ấy một sự thật này. Không chỉ đi đốn củi, mà từ ăn uống, quét dọn, thậm chí… vợ tớ đều phải dẫn tớ đấy. Đùa các đằng ấy thôi. Mấy ngày đầu thì còn thế, chứ giờ thì tớ đã tự làm được một cây gậy nhỏ rồi. Đi đâu có anh bạn nhỏ này tiện lắm, chẳng sợ đâm vào ai, cũng chẳng sợ lạc đường.

Vậy nên từ rày đừng ai bảo tớ là Lý chảy thây nữa nhé.

Không nhìn được kể cũng bất tiện thật. Sau trận đòn ông lớn Dư bảo là oan năm đấy, cơ thể tớ cũng lành dần. Tay lành, chân lành, duy có con mắt là không lành. Mắt tớ dần dần mờ đi, cuối cùng tối sầm lại. Người ta bảo là tớ bị mù. Tớ bị mù à? Kể cũng tiếc thật. Mù rồi tớ không còn được nhìn thấy khuông mặt xinh đẹp của vợ tớ nữa. Nhưng bù lại, lúc nào tớ cũng được nghe tiếng nói thánh thót của vợ, được ngửi hương thơm ngào ngạt từ người vợ. Vợ chồng tớ đi đâu cũng có nhau. Năm vừa rồi, nàng còn sinh được một thằng cu xinh xắn. Bà nó hớn hở ra mặt, cả ngày chỉ chăm chăm nựng cháu. Thế này thì dù không được ăn thịt của Trương Thịt Thủ, không được uống trà của Hí Trà Môn, tớ cũng vẫn thấy vui.

–       Nương tử đâu rồi? Cùng ta vào rừng nào…