No public Twitter messages.
Posted by Alex on Jun - 24 - 2012

CHÙA ĐÀN Nguyễn Tuân

Đọc xong bị hen, một cơn hen đã lâu rồi không tái phát, một cơn hen đột ngột và bất thường không vì dị ứng thời tiết hay vận động quá nặng mà vì kịch chấn gây nên bởi sự bóp nghẹt buồng phổi của nội-tâm-đầy-âm-ảnh.

Chùa Đàn là một đoản thiên tiểu thuyết trinh thám-kinh dị láng lẩy chất liêu trai có nhẽ rất thích hợp để lên màn ảnh trong tông vàng chủ đạo: vàng xốp của nhộng rang, vàng óng của tơ tằm, vàng nâu của tang đàn, vàng mờ của hoàng lạp, vàng sánh của rượu ủ, vàng son tróc lở của tượng phật và vàng vọt của bộ da người máu đang cạn dần…

Truyện gồm ba khúc mạch lạc:

Khúc 1, hai anh nọ gặp nhau ở một trại tù chính trị trên miệt thượng du. Một anh rất sung túc, bặt thiệp và phong nhã, có hai sự kỵ bí hiểm là rượu và hát ả đào. Anh còn lại cũng trí thức đạo ta. Giữa môi trường toàn những tâm hồn hạn hán, dễ hiểu là cái thanh tao tươi mát của họ mau chóng vồ lấy nhau. Anh phong nhã đưa cuốn tự truyện của mình cho anh trí thức.

Khúc 2, tự truyện kể về một nhân vật chính và bốn nhân vật phụ, họ không hoàn toàn đồng hiện nhưng luôn luôn trong mọi lúc có ít nhất một người sống, một người thoi thóp và một bóng ma. Nhân vật chính là người giữ vai trò kéo đẩy và hối đoái trạng thái sống-thoi thóp-bóng ma của các nhân vật khác cũng như của chính bản thân mình. Đây là phần nguyên bản và quan trọng nhất của tác phẩm.

Khúc 3, anh trí thức biên thư cho người giã từ sự sống chuyển sang thoi thóp sau cái chết của nhân vật chính, khuyên cô cách ứng xử nên có trước cơn trở dạ của dân tộc và thời đại. Đoạn này thoát xác yêu ngôn để khoác áo tuyên truyền ngôn, gây cảm giác hụt hẫng y như đang ngự kiếm vi vu thì mất linh lực ngã lộn nhào xuống vậy!

 

Vì muốn bóc lớp vỏ truyền giáo ra, nên tôi tảng lờ khúc 3 và người dẫn truyện cùng là câu triết lý cần suy ngẫm “Đối với đời sống phải sòng phẳng” của anh ta.

Khúc 1 điểm xuyết tư vị trinh thám khi thổi khói đen quá khứ xuống lối sống và lời lẽ của nhân vật phong nhã bặt thiệp kia mặc dù anh ta đã xê dịch, đã chuyển tâm mê từ cõi thế hạn hẹp tạm bợ sang cuộc sống hứa hẹn của một đại vũ trụ đại lý tưởng đại nhân dân. Nguồn cơn của những ngún khói ấy nằm trong khúc 2, phần kích thích nhất.

Bá Nhỡ là tội nhân trốn án đại hình được một cặp ân ái vợ chồng cưu mang. Vợ chết, chồng trầm uất. Vì ơn tái tạo, Bá Nhỡ sẵn sàng trả bất cứ giá nào kể cả mạng sống để vớt vát đời chủ, cuối cùng chết gục trên cần đàn ma quỷ giữa những giai điệu có thần hiệu cứu rỗi cũng như bắt giữ linh hồn con người. Thật ra cả ba (tác giả, người đọc, nhân vật) đều biết rằng không phải tiếng đàn mà chính cái chết của Bá Nhỡ mới đủ lực lượng lôi người chủ ra khỏi vũng lầy mụ mê trụy lạc.

 

Cái bắt tôi phải nghĩ ở đây là, việc cảm tử cho tha nhân quyết sinh có ý nghĩa gì? (Tôi thắc mắc điều này từ năm ‘88, khi đọc bài báo tuyên dương một thiếu niên chết đuối vì cứu người ngã sông, gửi lại song thân một tấm bằng khen dũng cảm làm quà an ủi thay vì sống cho tử tế đặng phụng dưỡng hai vị.)

Nói cho đúng, hình ảnh nghệ sĩ tàn hơi trong quá trình sáng tạo nghệ thuật rất nhất quán với khuynh hướng cầu kỳ khi đề cao cái đẹp của Nguyễn Tuân. Tôi sẽ hiểu được nếu Bá Nhỡ say mê đàn nhạc đến đỗi sẵn sàng đánh đổi sự sống để: nhỏ là đồng hóa tài nghệ và bản thân với vĩnh hằng, lớn là dâng hiến cho đời mỹ điệu tuyệt đích giống con chim Úc châu nổi tiếng nào đó lao ngập ức vào những mũi gai và dồn sức hót một lần thăng hoa duy nhất độc nhất. Chắc chắn Bá Nhỡ có say mê, chứ tài suông đến đâu mà diễn tấu xuất thần thế này:

“Tiếng đàn hậm hực, chừng như không thoát hết được vào không gian. Nó nghẹn ngào, liễm kết cái u uất vào tận bên trong lòng người thẩm âm. Nó là một cái tâm sự không tiết được ra. Nó là một nỗi ủ kín bực dọc bưng bít. Nó giống như cái trạng huống than thở của một cảnh ngộ vô tri âm. Nó là cái tấm tức sinh lí của một sự giao hoan lưng chừng. Nó là niềm vang dội quằn quại của những tiếng chung tình. Nó là cái dư ba của bể chiều đứt chân sóng. Nó là cơn gió chẳng lọt kẽ mành thưa. Nó là sự tái phát chứng tật phong thấp vào cữ cuối thu dầm dề mưa ẩm và nhức nhối xương tuỷ. Nó là cái lả lay nhào lìa của lá bỏ cành. Nó là cái lê thê của nấm vô danh hiu hiu ngọc vàng so le. Nó là cái oan uổng nghìn đời của chỉ tơ con phím. Nó là một chuyện vướng vít nửa vời.”

 

Nhưng mà, có say mê đến mức chi trả bằng tính mệnh không?

Sở trường của Bá Nhỡ không giới hạn ở nhạc, anh ta biết phẩm rượu, biết làm kinh tế, biết hát chèo, biết diễn kịch, thi từ ca phú thông làu. Sở thích của anh ta cũng không giới hạn ở nhạc, vì bao nhiêu năm về ấp Mê Thảo anh ta chưa từng chơi hay tỏ ra quyến luyến, nhất là anh ta không phải kiêng đàn vì biến cố gì cả.

 

Phải chăng mấu chốt nằm ở người chủ và ở cái tư tưởng “sĩ vị tri kỷ giả tử” của Bá Nhỡ?

Sự hy sinh của Bá Nhỡ làm tôi nghĩ đến hai bộ phim, trước tiên là Triệu thị cô nhi (2010), sau là Shinigami no Seido (2008). Hướng chuyển thể của Triệu thị cô nhi kéo nhân vật về gần với hình mẫu con người thời nay, rất tự tư, rất tầm thường, Hàn Quyết trở thành anh hùng vị nghĩa từ thân chẳng qua chỉ do định mệnh trớ trêu hoàn cảnh xô đẩy, nhưng có một câu ông ta vô tình nói ra lại thành sợi dây giật đổ cả rừng, đó là lúc đầu phim nghe thiên hạ trêu, cưới nhau hai mươi năm đến giờ vợ mới có thai, phải chăng tu hú đẻ nhờ, thì Hàn Quyết trả lời, mãi không sinh bây giờ mới sinh, hẳn nhiên sẽ có mục đích đặc biệt. Và cái mục đích đó khiến ông ta ôm hận mãn kiếp.

Con người xuất hiện trên thế gian này nhờ những lý do khác nhau, nhưng điểm chung nhất của các khai sinh chính là cái chết, và Shinigami no Seido tổng kết, không cần biết già trẻ gái trai, không cần biết thanh bần phú quý, hễ mục đích của đời đã đạt là có thể buông tay lên đường. Nghe qua đơn giản, nhưng nội hàm mông mênh quá lắm, rốt cuộc mục đích ở đây là do bản thân người ta đặt ra hay do u minh đặt ra cho người ta? Không biết. Đành cứ miệt mài giải toán cả đời để chỉ nhận được đáp án lúc tàn hơi.

Soi thế mà suy, mục đích của đời Bá Nhỡ, là vắn số. Anh ta không trốn được án tử, anh ta chỉ được hoãn thời hạn thi hành. Một con người tâm hồn phong phú, tình thú tài hoa, bỗng một ngày bó thân vào khoảnh trời nhỏ hẹp không khí nghèo nàn, thì sống cũng khác nào đã chết. Bởi vậy tiếng đàn dùng để chăm bón vỗ về sinh cơ kia nó mới không hề lành mạnh, ngược lại còn dở dang, còn bệnh hoạn, còn uất ức, còn não nùng, khác nào tiếng hót phượng hoàng khi gãy cánh giữa vùng trời hờn tủi.

Bá Nhỡ minh triết hơn phần đông mọi người nhờ chỗ đã tìm ra đáp án trước khi số mệnh nhúng tay quyết hộ.

“Ta có nên quyến luyến với cái thể xác ta nữa không? Ta thử nghĩ xem ta có còn để dành ta vào việc gì khác không? Hay những ngày mai ngày kia cũng chỉ là sự tái diễn của ngày này thôi! Đổi tên đổi tuổi lên cái ấp nuôi tằm để rồi mà hết hẳn ở đây hay là hết ở một chỗ nào khác trong không gian?”

Anh ta chấp nhận mạo hiểm không phải vì cứu chuộc Lãnh Út, không phải để nâng giá tuyệt khúc trên nhạc đàn, mà để cuộc sống chấm dứt một cách hào nhoáng, phong nhã, cao thượng và ý nghĩa. Thế là sau phở, sau trà, sau chữ, sau chém treo ngành… Nguyễn Tuân tô vẽ đến cuộc du ngoạn vào vĩnh cửu. Ở đây tôi khước từ công đoạn suy diễn về tác giả trên phông cảnh tranh tối tranh sáng thời ấy, mặc dù ông là điển hình của việc lấy bản thân làm chất liệu sáng tác.

 

Thanh Trúc từng thắc mắc về “giới hạn của vũ trụ và bản chất thực sự của ý thức”, còn thắc mắc thường trực của tôi là ý nghĩa tồn tại. Nhân đọc Chùa Đàn tôi càng muốn biết, tôi ra đời này mà làm cái gì ngoài việc khiến bề mặt trái đất thêm chật chội? Hay chỉ đang chờ đến lúc xứng đáng cho một sự quét dọn mình?




Categories: LUẬN, TRUYỆN